vietnamese Tiếng Việt english English
Hôm nay:
Tin mới đăng:


Hôm qua mới xem vài ba bài báo, thấy phản ánh học sinh lớp 12 đang háo hức trước kỳ thi đại học sắp tới vì đây là lần đầu các em làm “chuột bạch” với mô hình thi “2-trong-1” đầy tranh cãi. Tôi chẳng biết báo chí phản ánh đúng bao nhiêu %, và những tấm ảnh các em học sinh 12 đang cười toe toét có phải đúng là hình các em đang vui vì… sắp thi phương pháp mới. Nhưng bản thân tôi, vốn cũng là thế hệ trải qua đủ tất cả các kỳ thi với muôn vàn cảm xúc: vui khi qua, buồn khi vướng, và sợ hãi khi phải đối mặt. Vài đứa cháu của tôi dù mới bước sang tuổi lớp 1, lớp 2 cũng đã phải thức khuya dậy sớm học bài, làm bài cần cù chăm chỉ một cách khuôn phép nếu muốn có chút thành tích và được xướng tên trước cột cờ để nhận những phần thưởng cuối năm. Vậy nên khi thấy báo chí bảo “các em hào hứng trước mô hình thi mới”, tôi chắc mẫm một từ “dối!”. Chẳng em nào, ở cái tuổi ăn được ngủ được, lại vui trước những kỳ thi với óc não căng như dây đàn tại Việt Nam. Có chăng thì cũng chỉ một vài em bị nhồi nhét đáng thương đến mức trở thành “mọt sách”.

Phải thừa nhận người Việt học nhiều thật, “nhiều” cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Còn nhớ ngày tôi học lớp hai, lớp ba (tức 7-8 tuổi), tất cả bảng cửu chương phải thuộc lòng vanh vách, ngay cả khi trong đầu tôi chưa hề có một ý niệm nào về câu hỏi “tại sao tôi phải học bảng cửu chương”. Tôi và những đứa bạn cùng trang lứa chỉ biết học vì “thầy cô yêu cầu học”, nếu không muốn nhận quả trứng gà tròn trĩnh (điểm 0) hay khá hơn là một con ngỗng quay (điểm 2) ở các buổi kiểm tra miệng bất thình lình. Thậm chí nếu ăn quá nhiều “trứng gà” hay “ngỗng quay”, chúng tôi sẽ phải chuyển đổi thành “roi, vọt” và nằm úp lên bàn để nhỏ lớp trưởng được cô chủ nhiệm ủy quyền đánh thật mạnh vào mông.

Rồi những ngày mệt nhoài vì phải vác chiếc cặp nặng trịch toàn là sách và tập. Có môn đến hai, ba quyển sách các loại, chưa tính thêm tập viết lý thuyết lẫn bài tập về nhà. Bản thân chúng tôi đúng nghĩa “cần lao” và miệt mài nuốt cho hết mớ chữ nghĩa mà đôi khi đi vào cả giấc mơ chưa tròn tuổi của mình. Và khi học-học nữa-học mãi vẫn chưa hết mớ kiến thức thầy cô cố nhồi nhét vào đầu, chúng tôi bắt đầu tìm đến thánh thần và sự ma mị. Nào là ra nghĩa địa bứt “lá thuộc bài” kẹp vào từng trang vở; nào là đi bắt xăm, bắt quả, bói bài… đủ các kiểu các thể loại, chỉ mong có thể an tâm ngủ ngon để sớm tinh mơ còn đủ sức mò dậy, tạt từng gáo nước lạnh buốt vào mặt để trấn tỉnh và tiếp tục học vội học vàng vài ba dòng mong sao “trúng tủ” trước khi chạy ù đến trường thi với bộ đồ xộc xệch chưa kịp ủi tinh tươm.

Thời phổ thông trung học là những tháng ngày kinh khủng nhất khi cùng lúc phải ngốn ngấu nghiến hơn chục môn học mà mãi khi tốt nghiệp đại học, tôi cũng chẳng biết thời ấy chúng tôi phải học những môn ấy để làm gì. Chúng tôi phải ngồi hàng giờ để học những bài tập hóa tìm chất trong lọ “mất nhãn”; trong khi thực tế tại bất kỳ nơi nào, các lọ mất nhãn đều bị bỏ đi vì tính chất an toàn. Chúng tôi được học vài tháng ròng và vật vã vì con lắc đơn; trong khi thế giới hiện nay gần như chẳng nơi nào còn ứng dụng. Chúng tôi miệt mài học từ vựng, viết câu, ngữ pháp ngoại ngữ trong suốt 7 năm trời, và rồi mọi thứ vẫn zero khi một câu sinh ngữ bẻ đôi không đứa nào nghe được, càng không nói được rõ ràng; trong khi trẻ con bản xứ thì được học ngược lại hoàn toàn: phải tập nghe, học nói, rồi đọc, và cuối cùng mới tới giai đoạn viết. Đó là chưa kể các hệ phương trình, bài tích phân, lượng giác… toàn trên trời, có khi thầy tôi – một người cần mẫn và chịu khó – đứng trầm ngâm cả giờ để rồi hẹn lớp bài giải hôm sau. Mãi về sau mới biết, nhiều thứ chúng tôi học từ phổ thông chính là bài học mà các bạn Tây được tiếp cận khi vào đại học.

Đó là lý do tôi không bao giờ ngạc nhiên khi nghe ở bảng xếp hạn toán học và khoa học, Việt Nam luôn nằm trong tốp đầu. Những em học sinh Việt Nam được trau dồi không phải phương pháp mà là kiến thức (mênh mông và vô hạn); được yêu cầu học chứ không phải tò mò tìm hiểu; phải ngước lên (bục giảng) tiếp thu và xem mọi thứ thầy cô nói ra đều là chân lý, chứ không phải “nhìn xuống” (bảng đen) nơi thầy cô truyền thụ niềm đam mê, cảm hứng với một vài gợi ý căn bản để các em tự sức phát huy khả năng như ở phương Tây. Ngay từ tư thế ngồi học các em đã bị rơi vào thế yếu, thế thụ động, thế chịu đựng và chấp nhận những thứ mà thầy cô tự cho là chân lý và yêu cầu các em phải làm theo.

Với các em “gà chọi”, vốn có khả năng nhớ tốt và phản ứng nhanh, các em được đào tạo trở thành “gà chọi” chuyện nghiệp trong các cuộc đấu toán học, khoa học trong nước và quốc tế. Môi trường “luyện thi” khắc nghiệt được tung ra; các em phải học để đấu tranh vì điểm, vì sĩ diện gia đình và trường lớp; vì thứ mà người ta bảo rằng là màu cờ sắc áo; là danh dự… vốn là những thứ quá sức với các em, và chẳng bao giờ các em nắm bắt được hết. Để rồi các em lao vào học điên cuồng cho dù trong đầu mình chẳng có một ý niệm nào về tương lai và niềm đam mê thực sự bùng cháy của bản thân.

Sự tôi rèn một cách “phát xít” và máy móc khiến đa phần học sinh đều rơi vào thế bí. Em nào không có khả năng nhồi nhét kiến thức thì bị thầy cô và bạn bè khinh khi, hoặc giảm sự quan tâm và ưu tiên; trong khi các em có năng lực cũng chỉ biết làm toán, làm toán và làm toán. Thế giới luôn vận động và mọi thứ ngoài kia liên tục thay đổi. “Sách vở là thứ được đúc kết từ thực tế, nhưng không bao giờ bắt kịp được mọi thứ đang diễn ra”. Nhưng với cách giáo dục nặng về sách vở và hạn chế tính thực tiễn, bản chất sáng tạo và sự đột phá về tư duy của học sinh đã bị “bẽ gãy”, thậm chí là hủy hoại nghiêm trọng. Nhiều chuyên gia sư phạm hàng đầu thế giới đã không hề tỏ ra nao núng khi bảng xếp hạng thành tích toán học và khoa học của học sinh dưới 15 tuổi ở Việt Nam cao hơn nhiều so với họ. Trái lại, họ chỉ ra rằng chương trình dạy khắc nghiệt chính là “liều thuốc độc” khiến Việt Nam tuy hạng cao nhưng chẳng có một giải thưởng Nobel khoa học nào. Ngoại trừ giải thưởng toán học danh giá của GS Ngô Bảo Châu, vốn chẳng phải hưởng thụ toàn diện giáo dục Việt Nam, thì đến nay các giải thưởng mang tính tầm cỡ thế giới có sức ảnh hưởng đến nhân loại vẫn chỉ là những niềm mơ ước xa xỉ với một quốc gia 90 triệu dân có truyền thống hiếu học.

Hãy nhìn cái cách mà trẻ em phương tây được đến các viện bảo tàng để học lịch sử; vào rừng để học môi trường; ra đường để học giao thông; xuống sông học về thủy lợi; ra chợ học về bán buôn… để thấy rằng với giáo dục, triết lý quan trọng bậc nhất chính là phương pháp chứ không phải kiến thức, nhất là khi trong thời đại toàn cầu hóa Internet, kiến thức chỉ là những cái click chuột chưa đầy một giây. Trẻ em Việt được dạy cách giải bài toán A; trong khi phương Tây dạy học trò cách giải dạng toán A. Việt Nam dạy trẻ “món hàng này giá bao nhiêu?”, trong khi phương Tây dạy chúng cách xác định “giá trị” của mọi thứ trên đời, để chúng biết đâu là cái cốt lõi của bất kỳ một món hàng nào mà chúng thấy. Phương Tây không bao giờ bỏ trẻ em gặp khó khăn trong chuyện học, trong khi chúng ta chỉ tập trung bồi dưỡng có định hướng từ trên xuống, mà vô hình chung là tạo áp lực cho các em học sinh vốn có tiềm năng. Để rồi kết quả là khi người ta liên tục cho ra đời nhiều ý tưởng và các bằng sáng chế, thì người Việt vẫn chỉ cặm cụi làm người thợ làm công; đã vậy còn mắc chứng ganh tỵ nhau khi thấy người khác lao động có chút thành quả. Suy cho cùng cũng xuất phát từ nền giáo dục trọng thành tích, danh dự, sĩ diện và tên tuổi vốn chẳng thể nuôi được những cái đầu có khả năng bứt phá phi thường.

Cao Huy Huân

(Blog VOA)

Lâu lắm nữa, xã hội ta mới sống đúng theo những gì mình có. Khi đó sẽ có nhiều người ngẩng cao đầu cùng câu nói: Xin lỗi, tôi không phải là tiến sĩ!

Mất gì cũng được, không thể mất mặt

Trong truyện ngắn “cụ Chánh Bá mất giầy” của Nguyễn Công Hoan, có một chi tiết khá thú vị, đó là khi xong chầu tổ tôm, cụ Chánh thấy bỡ ngỡ đôi chút khi phát hiện ra đôi giày mà mình đang xỏ nó quá mới so với đôi mà cụ vẫn đi, nhưng cụ vẫn thản nhiên xỏ tiếp và ra về trước cái thở phào nhẹ nhõm của chủ nhà.

Ngày nay, con cháu vẫn có nhiều người tiếp tục biết nhầm mà không thắc mắc như cụ, nhưng không phải  nhầm một đôi giày Nam Định, mà là nhầm về chức danh hay học vị theo xu thế cao hơn những gì họ thực có.

Trong các cuộc hội thảo hay các diễn đàn quan trọng, nơi phần lớn người tham gia là những lãnh đạo lớn hoặc học vị cao, đôi lúc ban tổ chức cảm thấy bất tiện khi giới thiệu một người nào đó không có chức danh cao hay học vị Tiến sĩ (TS) lên ngồi ghế nóng.

Chính vì vậy họ thường chủ động gắn cho người đó cái học vị TS cho nó trang trọng. Cũng thực lạ là hình như có rất ít người chủ động đính chính chuyện họ không phải là TS. Thay vào đó, cũng giống như cụ Chánh Bá, họ lờ đi vì sự nhầm lẫn có lợi này.

tiến sĩ, bằng cấp, học hành, tâm lý
Tại các hội thảo BTC thường chủ động gắn học vị TS
 cho khách mời cho nó "trang trọng". Ảnh minh họa
Không rõ tính háo danh của dân Việt ta có từ bao giờ nhưng có một nguyên nhân (được nhiều nhà nghiên cứu xã hội đồng tình) làm cho người Việt chúng ta thích “danh” hơn các dân tộc khác. Đó là do xã hội Việt Nam xưa kia đơn điệu và nghèo nàn quá nên có quá ít sự lựa chọn cho mỗi cá nhân trong việc tìm lấy cho mình một hướng đi phù hợp. Thay vào đó, mọi người đều có xu thế tranh giành nhau những thứ hữu hạn và ai cũng muốn mình có được phần nhiều hơn để có thể vươn lên và đứng trên người khác.

Có lẽ ít có dân tộc nào coi trọng chữ “danh” hơn người Việt. Nhu cầu được chứng tỏ bản thân, mặc dù chỉ là trong một cộng đồng nhỏ, hẹp khiến nhiều người sẵn sàng làm mọi thứ để được biết tới hay “nở mày, nở mặt” với thiên hạ.

Đặc biệt không có nơi đâu người ta bảo vệ “bộ mặt” cẩn thận như tại nước ta, nơi phần đông dân chúng luôn giữ vững nguyên tắc “mất gì cũng được chứ nhất quyết không chịu mất mặt”- một thứ vốn dĩ rất khó hình dung được một cách cụ thể và khó có thể lượng hóa!

Trong vụ việc om sòm giữa Bộ GTVT và ông Trần Đình Bá, ông Bá hẳn biết và hiểu rõ mình không phải là TS và chắc ông này cũng không đến mức ngây ngô để không hiểu được là Bộ GTVT không có chức năng cấp cho ông cái bằng TS. Tuy nhiên ông vẫn tìm mọi cách chứng minh mình là TS rồi nhưng chỉ là chưa cấp bằng mà thôi.

Có không ít người trong xã hội ta khoái được gọi nhầm hoặc đánh máy nhầm cái học vị như ông Bá bởi vì người ta không dễ gì từ bỏ cái danh mà mình đang có kể cả khi biết rất rõ nó ảo đến mức nào!

Với phần đông dân chúng ngày trước, con đường để một ai đó có thể đổi đời và thành danh hầu như chỉ có một, đó là dùi mài kinh sử để thi đỗ làm quan. Cũng bởi vì trong danh có lợi nên công cuộc lều chõng ngày xưa đó không đơn thuần chỉ là ý chí của mỗi cá nhân, mà nhiều lúc nó gánh trên mình sự kỳ vọng của cả dòng tộc, làng xã hay thậm chí là cả châu, phủ.

Nếu chẳng may, người được cả cộng đồng kỳ vọng đó không làm nên chuyện để được vinh danh trở về, thì rất có thể đang là một đứa con yêu, kẻ thất bại này nhanh chóng trở thành tội đồ, vì không thể làm rạng danh quê cha đất tổ.

Do không có nhiều lựa chọn để phân định cao thấp về kiến thức, tài năng, người Việt thời trước thường dùng thước đo thứ bậc trong các kỳ thi ở mỗi cấp (Hương, Hội, Đình) như là tham chiếu cho việc so sánh người này với người kia. Mặc dù những gì họ thể hiện chỉ phản ánh một mảng năng lực của mỗi người mà thôi.

Ông có bằng cấp chuyên môn không?

Cách tiếp cận này đã dẫn đến một hệ quả xã hội đó là “bạn cứ nói thế nào kệ bạn, còn tôi vẫn sẽ không tin nếu bạn không chìa ra cho tôi xem bạn có bằng cấp gì và tốt nghiệp ở đâu”! Đây có thể được xem là điển hình của việc chuộng bằng cấp ở nước ta và vẫn còn diễn ra đến tận ngày nay.

Một khi bằng cấp được sử dụng như là một thước đo của kiến thức, năng lực và kể cả độ tin cậy của một cá nhân, sẽ rất khó cho ai đó có thể thuyết minh, phản biện hay thực hiện những ý tưởng hoặc đề án khoa học mà không có bằng cấp chuyên môn phù hợp.

Như vậy từ sự háo danh, người Việt đã dần dần coi bằng cấp như một chỉ số quan trọng và tất yếu để đảm bảo sự thành công. Với những ai có đam mê tìm tòi, sáng tạo và tâm huyết thử nghiệm những cái mới, cửa ải đầu tiên mà họ phải vượt qua để có thể biến những ý tưởng thành hiện thực đó là câu hỏi của cơ quan quản lý “ông/bà có bằng cấp chuyên môn không”?

Những gì xảy ra với ông Hòa ở Thái Bình hay “Đại tướng Hai lúa” ở Tây Ninh và nhiều người dân đam mê khoa học trên khắp đất nước trong những năm qua đã phần nào chứng minh nhận định trên.

Tính háo danh cũng góp phần tạo nên nhiều nghịch lý trong xã hội Việt Nam và khiến cho “nhân sinh quan của” nhiều người đôi lúc bị lệch chuẩn. Ít có nơi nào người ta hay sử dụng cụm từ “trọc phú” – chỉ những người giàu nhưng học hành ít, như trong các làng, xã Việt Nam.

Tính háo danh lớn đến nỗi, mặc dù giàu có hơn nhiều ngươi khác, nhưng nhiều người bị coi là trọc phú này vẫn bị chi phối bởi tâm lý “mình tuy có giàu mà chưa có sàng” vì chưa có được một cái “danh” cho nó tương xứng. Trong tầng lớp khá giả đó, những ai không có khả năng học tập để có được tấm bằng, họ sẽ chọn con đường dễ dàng nhưng tốn kém hơn – mua danh.

Cũng chỉ vì háo danh nên nhiều người cứ hay cười trừ mỗi khi có ai gọi họ là TS nhưng cũng không sẵn sàng lên tiếng để nói với mọi người rằng: Xin lỗi, tôi không phải là Tiến sĩ!

Trở lại câu chuyện ông Trần Đình Bá, khi quyết định xác minh tấm bằng TS của ông Bá, Bộ GTVT đã tự đưa mình vào hoàn cảnh khó khi sử dụng hình thức vốn bị coi là “chơi xấu” (sai nguyên tắc) trong các cuộc tranh biện – hạ thấp danh dự của đối thủ.

Cho dù một lãnh đạo của bộ này đã lên tiếng chính thức xin lỗi, nhưng việc này cho thấy họ quá  “nóng vội” trong xử lý khủng khoảng truyền thông.

Nhìn cảnh các cháu học sinh vừa “tốt nghiệp đại học chữ to” cùng ước muốn (từ cha mẹ) cùng chụp ảnh khoe thành tích học tập với các anh chị cấp 3 ở Quốc Tử Giám, mới thấy tâm lý “sính” khoe sự học hành của dân ta thế nào.

Có thể thấy rất lâu, lâu lắm nữa, xã hội chúng ta mới sống đúng theo những gì mình có. Khi đó, mỗi công dân sẽ tự hào vì những gì mình làm được và cống hiến, thay vì các giá trị ảo do bằng cấp tạo nên.

Khi đó sẽ có nhiều người ngẩng cao đầu cùng câu nói: Xin lỗi, tôi không phải là tiến sĩ!

Trần Văn Tuấn 

(Tuần Việt Nam)

Báo chí Việt Nam đưa tin vụ một học sinh lớp 9 bị bạn đánh chết sau khi tan học.
                 Báo chí Việt Nam đưa tin vụ một học sinh lớp 9 bị bạn đánh chết sau khi tan học.

Cả tuần nay báo chí đưa tin rầm rộ việc một học sinh lớp 9 bị bạn đánh chết sau khi tan học. Chuyện bạo lực học đường tới thời điểm này dường như đã trở thành một vấn nạn đầy bế tắc, sau hàng loạt vụ đánh bạn diễn ra rải rác trong suốt những năm vừa qua. Nhiều người cho rằng “ở đâu cũng có côn đồ”, nhưng tôi lại cho rằng tính “côn đồ” không chỉ đơn thuần xuất phát từ bản thân các em – nhất là khi các em được giáo dục trong cùng một môi trường học tập.

Lãnh đạo kém: thiếu môi trường giáo dục

Chuyện lớp trưởng đánh bạn, hay “cho người đánh bạn” và gần nhất là vụ huy động lực lượng đánh bạn học gây tử vong khiến tôi nhớ đến bài học về Mẹ của Thầy Mạnh Tử. Bà cố cho con tránh xa nghĩa địa, tránh chợ mua bán bộn bề để cho con đến ở gần trường học, cốt là để con cái có được một môi trường “gần đèn” chứ không phải “vấy mực”. Vậy nên, cái cốt yếu nhìn từ góc độ của những người làm giáo dục chính là tạo ra một môi trường phát triển tự nhiên, lành mạnh cho các em học sinh thoải mái tiếp cận và phát triển không chỉ trong vài ba ngày, vài ba năm, mà là đến hết cuộc đời. Còn nếu bạo lực học đường vẫn còn nhan nhản ngoài kia, thì điều đó có nghĩa là các vị quản lý chưa phải là những người mẹ của Thầy Mạnh Tử - không phải là những nhà giáo dục thực thụ.

Ấy vậy mà bấy lâu nay không ít người vẫn sống mơ hồ, sai lầm và tự sướng trên một mớ hỗn độn mà họ thường gọi là “giáo dục”. Bản thân tôi nghĩ, nội hàm của nền giáo dục là sự phát triển tự nhiên và hài hòa được tạo dựng bởi lãnh đạo ngành có tâm, thầy cô có đức độ và có tài năng phối hợp với sự hỗ trợ của những bậc làm cha, làm mẹ. Nhưng rồi cái mà hàng triệu trẻ em nhận được trong thời gian qua không gì khác là những khẩu hiệu hô hào cải cách, giảm tải chương trình giáo dục mà không đi kèm với những hành động hiệu quả. Kỳ thi đại học đến gần, và rồi các em cũng chưa biết cuộc đời mình sẽ đi về đâu khi các môn thi cứ quẩn quanh trong đầu đến mức che luôn cả “mớ” chữ mà các em phải thức trắng đêm để ráng học thuộc nằm lòng, cầu mong cho qua khỏi “con trăng” thi cử. Các em phải tiếp xúc với một hệ thống giáo dục vẫn còn “roi, vọt” hơn là sự đồng cảm, chia sẻ và cứu rỗi.

Kết quả xếp hạng mới đây của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cho ra kết quả bất ngờ đến hỗ thẹn “Việt Nam xếp hạng 12 thế giới về giáo dục, hơn cả Mỹ, Anh, Úc và nhiều nước châu Âu”. Dường như các vị quan chức ngành giáo dục vẫn lâng lâng hạnh phúc hay tự sướng khi không đưa ra bất kỳ bình luận nào – như thể “chấp nhận” kết quả mà cả thế giới phải tranh cãi. Thế mới nói hỗ thẹn, vì giáo dục một nước chỉ biết tự sướng trước kết quả thi toán và khoa học của những “chú gà chọi” vốn là điểm nổi bật chứ không phải hiện tượng điển hình của giáo dục nhà ta. Còn nói về hiệu quả giáo dục, hãy nhìn hàng vạn cử nhân thất nghiệp tuyệt đối mỗi năm, hàng tá người tốt nghiệp đại học phải sống lây lất bằng nghề tay trái, hàng triệu bằng sáng chế của thế giới mà Việt Nam chẳng góp mặt được mấy cái tên, hay như sự xung đột giữa các em giỏi và các em chưa giỏi ngày càng trở nên căng thẳng khiến phụ huynh lẫn trẻ em ai cũng sợ hãi.

Giáo viên ứng xử thiếu công bằng

Trong khi đó lực lượng giáo viên, tuy có nhiều người giỏi, nhưng người bất tài cũng không thiếu, mà người bất lương cũng không phải là hiếm thấy. Con em chúng ta rời ghế nhà trường sau những buổi học đầy ẩn ý trên giảng đường, phải hối hả lùa vội vàng vài hột cơm để kịp ca học trưa, chiều, tối, thậm chí là khuya. Trước khi tôn vinh theo kiểu “quơ đũa cả nắm” chất lượng giáo viên, thì xin các ngài lãnh đạo giáo dục thử một lần giả dân thường mà đi thị sát, hỏi từng em học sinh và các bậc phụ huynh về áp lực và không ít bất công đang tồn tại trong ngành. “Con tôi đạt điểm cao mà tôi chẳng mừng, vì đề bài có trong học thêm tại nhà giáo viên”, “nhà tôi nghèo, con không được đi học thêm nên phải chịu thua bạn thua bè”, “cả nhà tôi phải chạy đua với thời gian để cùng con tôi ăn, ngủ và học thêm”, “cặp tụi cháu đi học bữa nào cũng nặng trịch, vác mà không lớn  nổi”, “học nhiều quá, mà cháu cũng chẳng biết học mấy thứ đó để làm gì”… là những câu trả lời thật-thẳng-đúng đến đau lòng, đến xót xa cho nền giáo dục vẫn cứ “cải cách” như ăn cơm bữa.

Đó là tôi chưa kể đến tính bất bình đẳng trong cách ứng xử của thầy cô với học trò. Ở Tây, người ta không quan tâm em nào giỏi, em nào chưa giỏi… Cốt yếu người ta phải đảm bảo em nào cũng được đối xử như nhau, bình đẳng và nhân văn để các em cùng được hưởng nền giáo dục cơ bản thật hiệu quả. Ngoài chuyện không thi cử khi học tiểu học, cấp II, các trường cũng không công bố điểm của các em một cách bừa bãi, không công khai khuyết điểm trước lớp, càng không có chuyện giáo viên xỉ vả các em học yếu, học kém và có những đặc cách, ưu ái với các em có chút ít tài năng ở độ tuổi mới vào đời. Chẳng nền giáo dục nào có nhiều hiện tượng thiếu bình đẳng, thiếu nhân văn như thực trạng lớp trưởng được giáo viên ủy quyền quản lớp, mách lẻo, phán tội, thậm chí là cầm roi đánh bạn như tại Việt Nam. Một đứa cháu của tôi hí hửng kể “cháu là lớp trưởng, đứa nào cũng phải nghe, nếu không cháu sẽ báo cô giáo nó không học bài, nói chuyện riêng trong lớp… Đứa nào chơi bắn culi, chọi dép hay chơi hình giấy là cháu tịch thu hết. Còn đứa nào liều chơi điện tử, bi lắc…thì sẽ ốm đòn nếu cháu mách lại cô. Nhiều đứa sợ cháu nên phải để cháu sai vặt, như mua bánh, kẹo hay mua nước uống những khi cháu lệnh”. Hay các em học sinh giỏi ở một môn nào đó thường cũng được “thầy ưu ái chấm điểm cao, không bắt phải trực nhật, miễn tiền quỹ lớp, và nhiều biệt đãi khác…” trong khi cả lớp ai cũng phải tuân theo những quy định chung trường lớp.

Độ tuổi tiểu học, trung học cơ sở vẫn còn quá nhạy cảm và yếu ớt để gánh những trận đòn của bạn bè cùng lớp, nhận sự xỉ vả và ngược đãi, thiếu quan tâm, thiếu chia sẻ từ phía thầy cô. Chẳng may chúng gặp phải, những phản ứng mang tính đường đột như tấn công bạn, thậm chí là giết chết bạn học cũng là một điều không khó dự báo và giải thích trong một môi trường giáo dục nặng tính quân chủ chuyên chế như vậy. Các em cần được đối xử bình đẳng, công bằng, “công tư và thưởng phạt phân minh” để các em còn biết trên đầu mỗi người còn có luật lệ, và bất kỳ ai phá vỡ nó đều sẽ bị trừng trị đích đáng mà không cần cân nhắc.

Bỏ lơ phụ huynh

Như đã đề cập, ngoài vai trò lãnh đạo của ngành chức năng cùng sự tân tâm của giáo viên thì sự kết nối giữa trường lớp với phụ huynh là cực kỳ quan trọng. Nhưng dường như trong thời gian qua, nhà trường đã “thiếu song phẳng” với phụ huynh. Các vị tăng học phí, tăng không kể xiết chi phí tất cả các khâu và đảm bảo chỉ để phục vụ học trò. Nhưng sự kết nối, tư vấn đối với những người làm cha, làm mẹ, làm gia đình… thì đã bị nhà trường bỏ lơ. Có chăng là những buổi họp phụ huynh sáo rỗng đến mỏi mắt ù tai nhưng kết luận vẫn là đóng học phí, học phí, và học phí. Có chăng là được thêm phiếu liên lạc theo kiểu “bé khỏe bé ngoan”, vốn chẳng nói lên được điều gì.

Nhiều trường học tại Việt Nam phân rõ “lúc ở nhà” và “khi ở trường”, giao toàn bộ quyền kiểm soát con em tại nhà cho phụ huynh mà không có bất kỳ định hướng nào để đưa giáo dục gia đình vào khung giáo dục toàn diện cho trẻ. Đó là lý do nhiều gia đình muốn giáo dục con cái cũng bất lực vì họ tiếp cận hạn chế vấn đề tiến triển tâm lý, tình cảm, suy nghĩ và nguyện vọng của trẻ - điều mà nhà trường hoàn toàn có thể hỗ trợ và phối hợp với phụ huynh. Việc để trẻ bị bạn đánh trong thời gian dài, hay phục kích đánh chết bạn…cho thấy một sự giám sát rất hạn chế của ban tổ chức.

Báo chí vẫn thường viết bài bênh vực các em nạn nhân bị bạn hành hung. Nhưng chẳng mấy ai quan tâm đến suy nghĩ và tình cảm chứ đừng nói đến ước mơ của những cô cậu “tội phạm nhí”. Chẳng ai biết các em trở nên manh động và đáng sợ là hệ lụy của một sự ngược đãi về tâm lý, thiếu công bằng về ứng xử từ phía nhà trường, thầy cô, bè bạn. Hay nói nôm na là các em bị nhà trường và gia đình bỏ rơi như những “của thừa thải” xã hội ngay từ khi các em gặp khó khăn về bài toán, câu thơ so với bạn bè. Chính các em cũng đáng thương, bởi nếu được đón nhận ngay từ những ngày đầu bằng đôi bàn tay bình đẳng, một môi trường lành mạnh thì có lẽ các em đã không bị “cùi” để rồi giờ này chẳng màn đến những vết “lở loét” nào nữa.

Cao Huy Huân

(Blog VOA)

"Bởi nếu xét toàn diện thì những tiêu chí như năng lực tư duy, năng lực hành động… kỹ năng sống, năng lực cảm thụ, những cái đó học sinh Việt Nam chắc chắn thua xa”.

Chớ ảo tưởng

Vừa qua, theo công bố của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) thì Việt Nam được xếp hạng thứ 12 trên thế giới, vượt qua các nước phát triển như Mỹ, Anh… trong bảng xếp hạng này.

Tuy nhiên, theo GS. Hoàng Tụy, nếu theo bảng xếp hạng và tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục của tổ chức OECD, thì giáo dục Việt Nam đã được bỏ qua những cái… bê bết nhất, để nằm ở vị trí thứ 12 trên thế giới.

Ngành giáo dục nên xem lại chất lượng của chính mình, chớ ảo tưởng vào kết quả của cách đó. Xếp hạng này là xếp hạng dưới góc độ hẹp. Đó là độ tiếp thu, nhận thức của học sinh về những hiểu biết môn Toán và môn Khoa học. Nó chỉ có tiêu chí như thế thì sự xếp hạng là chính xác, phù hợp.

Nhưng có điều, đó là tiêu chí rất hẹp. GS. Hoàng Tụy chỉ ra: “Không thể dựa trên tiêu chí ấy để đánh giá chất lượng, và ngộ nhận rằng chất lượng giáo dục Việt Nam còn cao hơn cả giáo dục của các nước phát triển như Pháp, Mỹ. Bởi nếu xét toàn diện thì những tiêu chí như năng lực tư duy, năng lực hành động, xử lý, giải quyết các tình huống nảy sinh trong thực tiễn, hay các kĩ năng sống, năng lực cảm thụ, những cái đó học sinh Việt Nam chắc chắn thua xa”.

Khi nhìn nhận chất lượng giáo dục Việt Nam dưới những tiêu chí như kỹ năng sống, tư duy, năng lực cảm thụ thì có thể nhận thấy giáo dục nước nhà vẫn còn “bê bết”. Các em học sinh vẫn đang học theo tư duy lối mòn, tiếp thu thụ động. Nghĩa là, thầy dạy sao trò biết vậy, sách giáo khoa viết sao thì học sinh “học gạo” như thế.

Ngành giáo dục, với phương pháp truyền thụ, cách giáo dục thụ động là một nguyên nhân hạn chế năng lực phản biện của các em học sinh. Hay như trong tiêu chí năng lực cảm thụ, đa phần người Việt Nam đều rất kém trong kĩ năng này. Vậy, năng lực cảm thụ là gì? Là khi con người ta đứng trước cái đẹp, một công trình kiến trúc, một bức tranh hay một tác phẩm văn học… họ có thể cảm nhận được cái đẹp cái dở của tác phẩm đó, không dừng lại ở việc đưa ra nhận định mà còn giải thích cho những nhận định của họ.

GS Hoàng Tụy, giáo dục, đổi mới giáo dục, học sinh, tuyển sinh, xếp hạng, OECD
                                           GS Hoàng Tụy. Ảnh: Nguyễn Đoàn Đình Bổng

Đi ngược thế giới

Bằng nhiều năm đào tạo sinh viên, nghiên cứu và hợp tác tại nhiều nước phát triển, kết hợp với những tài liệu nghiên cứu về giáo dục hiện đại,  GS. Hoàng Tụy đã chỉ ra những phương pháp giáo dục sau THCS ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, đi ngược các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.

Ông cho hay: Các nước như Mỹ, Anh, Pháp…, có cách đào tạo và phân luồng học sinh ngay từ rất sớm, sau khi đào tạo xong hệ THCS, nhà trường nhanh chóng phân luồng học sinh theo nhiều định hướng nghề nghiệp khác nhau. Sẽ có nhóm muốn đi thẳng vào các trường đào tạo nghề, sau 2 – 3 năm ra trường sẽ thành thợ. Có nhóm sẽ lên trung học phổ thông, lên đại học để được đào tạo trở thành những cử nhân có trình độ kĩ thuật, nhà quản lý…

Khi đào tạo những môn phân ban ở THPT như các khối tự nhiên hoặc xã hội, giáo dục các nước vẫn đảm bảo được thời gian và phân bổ chương trình, bổ sung những kiến thức nền tảng phổ thông để hoàn thiện hơn về đạo đức, kĩ năng sống của học sinh. Điều đó bảo đảm mục tiêu chất lượng dạy người, gắn với đào tạo các kiến thức văn hóa nền tảng.

Trong khi đó, nhìn lại giáo dục Việt Nam của chúng ta, việc đào tạo ở THPT rất yếu. Cách đây 10 năm, đào tạo giáo dục THPT như nhau một chương trình, sau đó ngành giáo dục cũng chủ trương phân ban. Tuy nhiên, cách phân ban của giáo dục Việt Nam cũng khác.

Tình trạng phổ biến, học sinh chỉ chăm chăm vào việc học các kiến thức “xung quanh” ban của mình. Ví dụ như các em phân ban A gồm các môn Toán, Lý, Hóa, hầu hết thời gian học tập chỉ dành cho việc tìm hiểu về các môn ấy, còn các môn học phổ thông khác như Ngữ văn, Lịch sử… lại bỏ qua. Điều đó dẫn đến những kiến thức phổ thông nền tảng thành sơ lược, không được bổ sung một cách đầy đủ và toàn diện, tạo nên những lỗ hổng to lớn về dạy người

Bên cạnh việc đó, theo GS Hoàng Tụy, giáo dục Việt Nam quá chú trọng và dạy rất sâu nhiều vấn đề, thậm chí chiếm một thời lượng lớn trong các môn học, những vấn đề đó ở nước ngoài không ai dạy nữa. Ngược lại, những có những kiến thức nước ngoài người ta dạy rất hay, rất tốt nhưng giáo dục của ta lại không tiếp thu.

Những tồn tại của giáo dục Việt Nam rõ ràng đặt ra những vấn đề gấp rút phải đổi mới, mở rộng tầm nhìn và tiếp thu, học hỏi có chọn lọc các nền giáo dục tiên tiến. Tuy nhiên, với GS. Hoàng Tụy cho rằng: “Việc cải cách giáo dục không thể nóng ruột mong muốn trong một sớm, một chiều. Bởi nó còn phụ thuộc vào hệ thống bộ máy từ Trung ương đến cơ sở, phụ thuộc vào sự đồng tâm, chung sức từ các nhà lãnh đạo, quản lý giáo dục đến các thầy cô và các em học sinh”.

Nguyễn Đoàn Đình Bổng

*Xin cảm ơn GS. Hoàng Tụy đã chia sẻ những ý kiến quý báu để người viết hoàn thành bài viết này. 

(Tuần Việt Nam)

12 quốc gia đứng đầu trong bảng xếp hạng chất lượng giáo dục dựa trên điểm thi toán và khoa học của học sinh ở độ tuổi 15 do OECD thực hiện.
12 quốc gia đứng đầu trong bảng xếp hạng chất lượng giáo dục dựa trên điểm thi toán và khoa học của học sinh ở độ tuổi 15 do OECD thực hiện. OECD.org

Vừa qua Tổ chức Hợp tác và phát triển gọi tắt là OECD, căn cứ vào kết quả kỳ thi toán và khoa học do tổ chức này thực hiện, xếp Việt nam đứng hạng thứ 12 về giáo dục, trên cả các cường quốc công nghiệp như Mỹ và Úc. Tin này cũng được nhiều người Việt nam đón nhận với sự tự hào về ngành giáo dục của mình. Tuy nhiên nhiều ý kiến của những người Việt nam làm việc trong ngành giáo dục trong và ngoài nước lại không phấn khởi như vậy. Sau đây là ghi nhận những ý kiến đó do Kính Hòa thực hiện.

Kỳ thi không thể đại diện cho ngành giáo dục

Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh, một nhà nghiên cứu giáo dục độc lập tại Sài gòn cho biết về quan điểm của bà về thứ hạng khá cao của Việt nam trong bảng xếp hạng của OECD vừa qua:

“Gần đây kết quả Việt nam đứng hạng thứ 12 do OECD xếp hạng thì kết quả đó làm nóng dư luận ở Việt nam, nhưng theo tôi thì đa số không nhìn chuyện đó một cách tích cực. Tất nhiên cũng có những ý kiến khác nhưng ít, mà đại đa số cho rằng kết quả đó không phản ánh đúng thực trạng.”

Kỳ thi do OECD tổ chức là dành cho các thành viên của mình, đa số là các quốc gia đã phát triển cao, nhưng những nước khác ngoài tổ chức cũng có thể tham gia, và đó là trường hợp của Việt nam.

Giáo sư Nguyễn Thế Hùng từ Đại học Bách khoa Đà Nẵng, khi được hỏi về bảng xếp hạng này thì ông phân tích những vấn đề yếu kém của Việt nam như thiết bị trường học, trình độ giáo viên và đi đến kết luận là trình độ giáo dục Việt nam không thể ở thứ hạng cao như vậy được.

Nhưng mà kết quả mà OECD đưa ra không phải là sai, nó dựa trên cách đánh giá mà đa số người Việt nam trong giới (giáo dục) cho là một cách đánh giá phiến diện. Cái cách đó tình cờ trùng hợp với Việt nam vì Việt nam nhấn mạnh đến toán. Toán ở trình độ thấp học một một cách máy móc, biết công thức rồi làm
Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh

Theo Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn ở Australia, người thường xuyên theo dõi tình hình giáo dục tại Việt nam thì bảng xếp hạng của OECD được dựa trên một kỳ thi gọi là PISA với các môn toán và khoa học cho lứa tuổi 15. Theo Giáo sư Tuấn thì chỉ lấy kết quả một kỳ thi với một số ít môn học như vậy, dù là kết quả ấy được thống kê một cách nghiêm túc cũng không thể phản ánh được thực trạng một nền giáo dục. Theo ông việc đánh giá một nền giáo dục cần phải có những chỉ tiêu khác như là chuyện bình đẳng trong giáo dục, chuyện học sinh bỏ học, chuyện sau khi ra trường thì đi làm việc như thế nào,…

Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh giải thích thứ hạng cao vừa qua của Việt nam trong kỳ thi của OECD:

Đội thi Toán quốc tế đạt thành tích cao
Đội thi Toán quốc tế đạt thành tích cao
“Nhưng mà kết quả mà OECD đưa ra không phải là sai, nó dựa trên cách đánh giá mà đa số người Việt nam trong giới (giáo dục) cho là một cách đánh giá phiến diện. Cái cách đó tình cờ trùng hợp với Việt nam vì Việt nam nhấn mạnh đến toán. Toán ở trình độ thấp học một một cách máy móc, biết công thức rồi làm.”

Mục đích của một nền giáo dục là gì?

Tiến sĩ Lê Dũng, hiện dạy toán tại Đại học Texas ở San Antonio thì so sánh mục đích của nền giáo dục Việt nam và Mỹ nơi ông đang sinh sống:

“Kiểu ở Việt nam là thi để có kết quả trong chuyện học. Ở Mỹ này thì học để ra làm việc. Vì vậy với hai cái tiêu chí như vậy thì hai bên khác xa nhiều lắm. Thành ra nếu nhìn một bên chỉ với chuyện học thôi thì cái đánh giá của OECD đúng. Dựa vào kết quả đó là đúng, còn nếu nói là để ra làm việc thì cái đó sai.”

Ông Lê Dũng nói thêm là những vấn đề trong cuộc sống rất là phức tạp, không thể giải giỏi những bài tập toán mà có thể giải quyết những vấn đề đó một cách tốt đẹp được.

Một lý do khác được nhiều người đưa ra để giải thích kết quả cao của Việt nam trong kỳ thi OECD là sự tập trung cả hệ thống chính trị để chuẩn bị cho kỳ thi đó. Tiến sĩ Vũ Thị Phương Anh nói:

“Có sự quan tâm của Bộ, rồi sự chỉ đạo,v.v… Nói chung là mình tham gia cái gì thì mình cũng rất là thành tích.”

ở Việt nam là thi để có kết quả trong chuyện học. Ở Mỹ này thì học để ra làm việc. Vì vậy với hai cái tiêu chí như vậy thì hai bên khác xa nhiều lắm. Thành ra nếu nhìn một bên chỉ với chuyện học thôi thì cái đánh giá của OECD đúng. Dựa vào kết quả đó là đúng, còn nếu nói là để ra làm việc thì cái đó sai
Tiến sĩ Lê Dũng

Theo tìm tòi của Giáo sư Nguyễn Văn Tuấn, thì truyền thông Việt nam cũng từng đưa tin về sự chuẩn bị kỳ thi này của các cấp trong ngành giáo dục Việt nam, từ chuyện nghiên cứu đề thi, cho đến tuyển chọn các học sinh. Và Giáo sư Tuấn căn cứ vào các chỉ số thống kê về thí sinh do OECD đưa ra thì các học sinh Việt nam rất đồng nhất, tức là được tuyển lựa một cách kỹ lưỡng hơn các quốc gia khác.

Giáo sư Nguyễn Thế Hùng than phiền về chuyện học thi này cũng như những gì mà ông thấy đáng lẽ ra phải được ngành giáo dục Việt nam thực hiện:

“Ở Việt nam nhiều lúc học cái kiểu như gà đá. Tức là có những bài vở người ta học rồi người ta làm bài nhanh chóng như thế, mà thể lực thì không chú ý, khả năng phát triển trí tuệ độc lập suy nghĩ, tìm tòi thì không có.”

Và ông cho rằng với thực trạng học hành hiện nay thì học sinh Việt nam sẽ càng học càng lùi đi, chứ không giống như kết quả tốt đẹp của kỳ thi quốc tế.

Tiến Sĩ Lê Dũng hiện vẫn trợ giúp cho các sinh viên tại Việt nam tìm học bỗng ở Mỹ có nhận xét về sinh viên Việt nam và cách học của người Việt nam:

“Những em ở Việt nam qua đây một hai năm đầu thì rất bỡ ngỡ trong chuyện làm việc với bạn bè, thiếu hẳn cái đó! Ở Mỹ người ta đào tạo những con người biết làm việc với nhau, chuyện đó rất quan trọng mà những nước như Việt nam rất là thiếu.”

Ông nói là những người cầm chịch ngành giáo dục Việt nam nên lựa chọn, nếu mục tiêu là những cuộc thi thì chương trình giáo dục hiện nay là đáp ứng được cho yêu cầu đó, còn nếu để làm cho một xã hội phát triển hơn thì cần phải thay đổi.

Khi mở đầu câu chuyện với chúng tôi ông Lê Dũng có nói vui là nếu các giảng viên ở đại học Texas ở San Antonio của ông mà sang thi đại học ở Việt nam thì nắm phần chắc là rớt.

Kết thúc buổi nói chuyện, trở lại với môn Toán là lĩnh vực của ông và cũng là điểm quan trọng của kỳ thi do OECD tổ chức, ông Lê Dũng nói là sinh viên Việt nam có thể giải hàng ngàn bài tập của một phép toán nào đó, nhưng thường thì không biết phép toán ấy được đặt ra để làm gì.

Kính Hòa

(RFA)

Sâu Ciu Blog