vietnamese Tiếng Việt english English
Hôm nay:
Tin mới đăng:

Ngày 13/3, Bộ GD-ĐT đã có công văn gửi các Sở GD-ĐT khẳng định: Bộ GD-ĐT không tổ chức biên soạn, không chủ trương phát hành tài liệu hướng dẫn ôn tập cho các kì thi.

Sở dĩ Bộ GD-ĐT gấp rút ban hành công văn gửi các Sở GD-ĐT là do hiện nay, trên thị trường sách tham khảo đang có bộ sách “Hướng dẫn ôn tập kì thi THPT quốc gia năm học 2014-2015” gồm 8 cuốn: Toán, Vật lí, Hóa học, Sinh học, Tiếng Anh, Ngữ văn, Lịch sử và Địa lí… do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam ấn hành tháng 2/2015.

Hình minh họa
Công văn của Bộ GD-ĐT nhấn mạnh: Bộ sách “Hướng dẫn ôn tập kì thi trung học phổ thông quốc gia năm học 2014-2015” do Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam trực tiếp tổ chức bản thảo và xuất bản. Trong số các tác giả của bộ sách có tên một số cán bộ đang công tác tại các vụ, cục thuộc Bộ. Các cán bộ này chỉ tham gia với tư cách cá nhân như các tác giả khác, không liên quan đến việc chỉ đạo chuyên môn của các đơn vị chức năng thuộc Bộ. Do vậy, bộ sách chỉ như các loại sách tham khảo khác có trên thị trường, không phải là sách do Bộ GD-ĐT biên soạn. Nội dung bộ sách nói trên không phù hợp với yêu cầu đề thi trong kì thi THPT quốc gia do Bộ tổ chức.

Bộ GD-ĐT cũng cho biết, trong thời gian tới, Bộ sẽ công bố trên trang thông tin điện tử của Bộ các đề thi minh họa cho các môn thi trong kì thi THPT quốc gia năm 2015 để giáo viên và học sinh tham khảo. Bộ GD-ĐT sẽ xem xét, yêu cầu các cá nhân là cán bộ của Bộ có liên quan đến việc xuất bản và phát hành các tài liệu nói trên rút kinh nghiệm và sẽ xử lý (nếu có vi phạm).

Bộ GD-ĐT cũng yêu cầu Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam cần rút kinh nghiệm và thận trọng hơn trong việc xuất bản và phát hành các tài liệu có sự tham gia của các cán bộ đang làm việc tại Bộ, vì có thể gây hiểu lầm là tài liệu hướng dẫn của Bộ.

“Các sở giáo dục và đào tạo phổ biến Công văn này đến các cơ sở giáo dục trực thuộc và thông tin kịp thời để học sinh và cha mẹ học sinh được biết. Yêu cầu các cơ sở giáo dục không được tổ chức phát hành các tài liệu tham khảo nói chung, bộ sách hướng dẫn ôn tập nói riêng. Việc mua tài liệu tham khảo trong quá trình học tập, ôn tập là hoàn toàn tự nguyện, các cơ sở giáo dục không được bắt buộc đối với người học dưới bất kỳ hình thức nào” - Công văn của Bộ quán triệt

Theo Báo Dân trí

Một số cô dâu gây tranh cãi vì diện những mẫu váy nhái thiết kế của thương hiệu nổi tiếng. Trong khi những người đẹp khác bị chê bởi chọn váy hàng hiệu nhưng không hợp vóc dáng.

Vào tháng 10/2014, nhà thiết kế Anh Thư từng lên tiếng về các sản phẩm do cô sáng tạo đang bị sao chép trái phép tràn lan trên thị trường với chất lượng kém. Nhà thiết kế cũng nhắc đến mẫu váy mà vợ nam diễn viên Gia Bảo mặc tại hôn lễ tháng 7. Anh Thư khẳng định mẫu váy trị giá 200 triệu đồng này từng được người mẫu Thanh Hằng trình diễn trong một chương trình thời trang vào tháng 4/2014. Trong khi đó, vợ chồng Gia Bảo hoàn toàn phủ nhận việc mượn ý tưởng.
Jennifer Phạm cũng nhận không ít lời chê dù chọn mua váy cưới chính hãng của Vera Wang trong ngày trọng đại. Thiết kế có màu trắng tinh khôi làm chủ đạo, điểm nhấn nổi bật là những họa tiết hoa hồng được tạo khối 3D trên chân váy. Tuy nhiên, phom dáng người đẹp không tôn được vẻ đẹp nguyên gốc của thiết kế.
Váy cưới của Jennifer là một trong những thiết kế nằm trong bộ sưu tập “White” ra mắt mùa thu năm 2012. Bộ sưu tập gồm 7 mẫu với giá mỗi chiếc váy dao động từ 600 đến 1.400 USD.
Nhật Kim Anh bị chê thiếu thon gọn khi diện chiếc váy cưới may từ chất liệu voan pha ren. Phần đuôi cá làm lộ nhược điểm về chiều cao của cô dâu.
Một số bộ váy khác trong tiệc cưới của nữ ca sĩ được thiết kế rối rắm vì đính kết nhiều chi tiết cườm đá trên thân áo.
Chiếc váy cưới của Ngân Khánh chọn có phom dáng khá đơn giản, thanh lịch. Đây là thiết kế nằm trong bộ sưu tập cuối cùng của Oscar de la Renta trước khi ông qua đời, trị giá 200 triệu đồng. Điểm nhấn bộ váy nằm ở tấm lúp đội đầu trải dài với những hình ảnh của các thành viên trong gia đình cô dâu và chú rể. Tuy nhiên, khi kết hơp áo cưới cùng lúp voan, có thể nhận ra sự lạc lõng của hai thiết kế.
Ý tưởng của Ngân Khánh bị cho là học hỏi từ chiếc váy mà Angelina Jolie diện trong hôn lễ của mình. Tuy nhiên không chỉ phần voan mà cả chiếc váy của minh tinh Hollywood cũng được phủ kín đặc những nét vẽ ngây thơ của sáu đứa con cô.
Ca sĩ Phương Vy nhận nhiều lời chê về chiếc váy cưới trong hôn lễ vừa diễn ra. Một số bình luận cho rằng chiều cao khiêm tốn, màu da ngăm đen và vóc dáng tròn trịa của nữ ca sĩ không hợp với dáng váy và làm cho thiết kế kém sang. Bên cạnh đó, việc bộ váy có nhiều điểm giống với một thiết kế (phải) của nhà tạo mẫu nổi tiếng Zuhair Murad càng khiến Phương Vy bị chỉ trích.
Trước những lời phản ứng gay gắt, Quán quân Vietnam Idol 2007 vẫn cảm thấy tự hào khi khoác lên mình bộ váy do chính tay mẹ mình may. Nữ ca sĩ cho biết đây là món quà mang đầy tình cảm và ý nghĩa không thể cân đo hay so sánh được.
Bộ váy cưới gần giống như trang phục diễn của Quỳnh Nga có thiết kế cầu kỳ, với nhiều đường sequin phủ dày đặc.
Theo VnExpress

Nhắc đến sông La là nhắc đến bản tình ca sông nước. Sông La không chỉ là niềm kiêu hãnh của quá khứ mà là vinh quang hiện tại. Dòng sông La đang vỗ nhịp cùng nhịp đi của bao người.

Ngọn nguồn của sông La là nơi giao lưu, gặp gỡ của 2 dòng sông: Ngàn Sâu và Ngàn Phố. Đây chính là địa chỉ bến Tam Soa.
Bến Tam Soa (Tùng Ảnh – Đức Thọ).
Đã từ bao đời nay, bến Tam Soa không chỉ là thắng cảnh thu hút du khách mà còn là nơi trao đổi hàng hóa của bao vùng quê. Tam Soa ngày xưa trong thơ Huy Cận phảng phất vị buồn mà đẹp:

Tới ngã ba sông nước bốn bề

Nửa chiều gà lạ gáy bên đê

Làng xa lặng lẽ sau tre trúc

Bến cũ thuyền em sắp ghé về…

Người con gái trong chiếc thuyền thơ có thể là quần the, áo lụa, có thể là chiếc áo nâu sồng, tần tảo. Nhân chứng giờ đã trôi theo dòng thời gian, nhưng câu thơ vang ngân và bóng hình quê hương, sông nước, vẻ đẹp của cô gái chèo thuyền trên sông La trong áng mây tà vẫn hiện hữu. Cảm ơn nhà thơ Huy Cận đã có những cảm xúc và ghi lại bằng thơ những giây phút ấy. Tôi nhớ một lần được nghe nghệ sĩ nhiếp ảnh Phan Thoan kể: Ông đọc bài thơ này rồi trằn trọc không sao ngủ được. Thế là ròng rã suốt 3 tháng liền, ông leo hết đồi này, núi nọ, chờ ánh sáng đẹp và khung cảnh bến Tam Soa thơ mộng nhất, chọn cho mình một góc ưng ý để bấm máy. Sự đam mê nghệ thuật của ông đã được đền đáp bằng tấm ảnh Bến Tam Soa được trưng bày ở phòng triển lãm, khiến bao người khâm phục. Bức ảnh ấy cùng tấm ảnh O du kích nhỏ vẫn ở mãi cùng ông, cùng quê hương Đức Thọ.

Nhiều du khách tới tham quan hay những đứa con “nửa đời phiêu bạt” về lại với sông La đã thấy bến Tam Soa thay đổi nhiều. Nằm cận bến Tam Soa là núi Quần Hội, nơi yên nghỉ của Tổng Bí thư Trần Phú. Dưới chân núi Quần Hội là một quần thể di tích được tôn tạo trang nghiêm và hoành tráng. Đặt chân tới bến Tam Soa, du khách sẽ không thôi nhớ về một thời oanh liệt của phà Linh Cảm. Những ngọn đồi lúp xúp ngày nào còn đỏ au màu đất và loang lổ đạn bom, nay đã lợp kín bằng những tán cây xanh của thông, tràm, bạch đàn. Cây xanh trên núi biếc của Tam Soa cứ mỗi sáng, mỗi chiều lại dạo cùng sóng nước sông La những tình khúc về quê hương, xứ sở “Đức Thọ gạo trắng, nước trong”. Riêng tôi đã nhiều lần được tắm trên bến Tam Soa và chứng kiến vẻ đẹp của bến nước này.

Khi bàn tay cầm được hòn sỏi nhỏ, khi vốc ngụm nước trong vắt phả vào người, khi bốc nắm cát mịn dưới đáy sông, tôi thấy hồn mình thư thái lạ. Trời cao xanh yên ả, xa xa là âm thanh náo nức của một vùng quê. “Thiên Nhẫn trùng trùng soi bóng bến Tam Soa”. Những bờ xôi, bãi mật hai bên bờ sông, từ Tùng Ảnh, Sơn Tân, Sơn Long…, màu xanh sung mãn ngút ngàn. Thu vào đáy mắt của tôi là nước biếc, trời xanh, đồng xanh. Mắt tôi sáng lên từ những màu xanh ấy và hình bóng những con đò dọc suốt hàng thập kỷ từ miền sơn cước về xuôi đầy ắp chè, chuối, cam, bưởi và cả song mây, nứa lá.

Vào những đêm trăng mát mẻ, đám trai gái làng ngã ba sông nước lại có những cuộc du thuyền đầy mơ mộng. Trăng càng tỏ, bến Tam Soa càng đẹp. Trong quán nhỏ, tiếng đàn bầu ngân lên thánh thót. Âm thanh neo xuống đáy sông, tan vào ánh trăng làm cho cả trời đất, tinh tú miên man trong tiếng đàn.

Làng bên sông

Nếu bên này sông La có làng Tùng Ảnh nổi tiếng về học hành, chữ nghĩa thì bên kia, làng Trường Sơn được cả nước biết đến là đất trăm nghề.

Làng nghề đóng tàu bên sông La
Chúng tôi đã có một cuộc du ngoạn dọc sông La. Thuyền tới bãi Ngưu Chữ rồi tắt máy, tất cả anh em đổ lên bờ. Dân địa phương gọi Ngưu Chữ là bãi Cồn Soi. Cồn Soi nằm trên sông La từ ngàn đời nay. Nó giống như ngòi bút nên mấy ông đồ nho theo thuyết phong thủy đặt tên là Ngưu Chữ. Ngày xưa, phía làng Hạ (Tùng Ảnh) nhờ có dòng sông La “nổi bút” nên có nhiều người đỗ đạt, làm quan to. Bãi Ngưu Chữ bây giờ không còn là cồn bãi đìu hiu mà trở thành một xóm nhỏ sầm uất. Mùa nào thức ấy, mùa đông, su hào, bắp cải; mùa hè, rau muống. Rau trên “ốc đảo” này phủ đầy phiên chợ quê.

Con sông La chạy dài hơn 15 km, phía hữu ngạn chảy tới đâu, đê lượn vòng tới đấy. Bờ đê cỏ xanh rì. Những chú trâu sau buổi làm đồng về lại đủng đỉnh gặm cỏ. Khi đã no nê, chúng được lũ trẻ tóc he, da đồng đưa xuống sông kỳ cọ. Mấy chú nhóc khoái trá mở hội thi trâu vượt sông và cười nắc nẻ. Hồn nhiên để lại dấu ấn cho những đứa con sau này công thành, danh toại lại nhớ về một khúc sông quê. Không ai khác, mình là đứa trẻ tắm cho trâu giữa dòng xanh của sông La. “Một dòng sông xanh chảy mãi tới vô cùng”. Sông chảy trong ký ức, sông chảy giữa tim người. Sông La chảy trong niềm vui bất tận và trong nỗi buồn sâu lắng. Con cá dưới sông, cây trồng trên bãi/Lúa gặt rồi còn để lại rơm thơm…

Đi thuyền trên sông La, bao nhiêu cảm xúc cứ dâng lên trong lòng, thuyền đến Trường Sơn lúc nào không hay. Vừa lên khỏi bến đã chạm ngay hình ảnh san sát những con thuyền. Trường Sơn từ xa xưa đã nổi tiếng về nghề đóng thuyền. Hàng trăm chủ hộ hiện đã có thuyền máy. Con người nơi đây luôn phải đối mặt, chống chọi với thủy thần. Kể cũng lạ! Lụt có lúc trôi nhà, trôi cửa, nhưng rất ít người rời khỏi xứ sở này. Trường Sơn đa dạng ngành nghề và họ làm gì cũng giỏi.

Một cán bộ xã kể cho tôi nghe nhiều trận quần nhau với lũ khá thú vị. Trường Sơn bao giờ cũng thế, chủ động và linh hoạt. Khi lũ lớn, cấp ủy và chính quyền địa phương chỉ đạo cán bộ thôn tập trung mọi nguồn lực để sơ tán người và tài sản lên vùng an toàn. Những lúc đó, phía tả ngạn đê sông La, trống nổi tùng tùng suốt đêm. Những người khỏe mạnh, trai tráng được phân công nhiệm vụ thì ào lên mặt đê để đọ sức với “thủy tinh”. Nhiều người dân ở đây thú thật, trong cơn lũ, họ vẫn nhận được “quà tặng của lũ” đó là củi, gỗ từ thượng nguồn trôi xuống, nhiều lúc còn có cả động vật và chim thú quý hiếm.

Bí thư Đảng ủy xã tâm sự: “Đối với Trường Sơn, lũ tuy gây hại lớn nhưng cũng mang lại không ít lợi ích vì sau lũ, lượng phù sa nhiều hơn. Đất phù sa trồng dâu – dâu tốt, trồng mía – mía ngọt, trồng ngô – ngô nhiều bắp”. Đúng như cha ông ta đúc kết: nhất cận thủy, nhị cận sơn. Bây giờ, ở Trường Sơn, đất gần bến đắt chẳng kém gì thị thành.

Sau cuộc du thuyền, chúng tôi vào một quán đặc sản dê nổi tiếng của Trường Sơn. Họ làm thịt một con dê chỉ trong vòng 30 phút và khi ăn không nghe mùi khét của dê. Đây là bí quyết của người Trường Sơn. Còn nói tới nông nghiệp, nhiều chủ hộ có 6-8 tấn thóc; nếu làm nghề vật liệu xây dựng từ nung vôi, đốt gạch, cào hến… ai cũng làm được. Không ít chủ hộ làm nghề dịch vụ buôn bán, làm bánh kẹo, thu lãi hàng chục triệu đồng. Nghề đan cót và làm các vật dụng khác vẫn đang được kế nghiệp từ đời này sang đời khác.

Làng bên sông giàu và đẹp được chắp cánh từ dạt dào sóng vỗ sông La.

Tháng 2/2015
Theo Báo Hà Tĩnh

Nhắc đến Thạch Hội, một trong những xã Biển Ngang, không ai lại không biết tới làng nghề có từ lâu đời, đó là nghề làm trống tại xóm Bắc Thai xã Thạch Hội

Để làm được những chiếc trống bền, đẹp, người thợ phải trải qua hơn 10 công đoạn.

Đến Bắc Thai, ngay từ đầu làng, chúng tôi đã nghe rõ âm thanh rộn ràng của máy bào, cưa, xen lẫn tiếng thử trống thùng thình… Các gia đình nhộn nhịp chạy đua với thời gian để kịp đưa ra thị trường những chiếc trống tốt nhất cho mùa lễ tết. Đang tất bật vận chuyển gỗ, chuẩn bị nguyên liệu để làm trống, anh Bùi Văn Thuận cho biết: “Đến dịp lễ tết, khách hàng nhiều nơi về đây mua trống. Có người ở xa 50-80 km, khách ngoài tỉnh cũng thường xuyên đặt hàng”.

Cũng theo anh Thuận, hiện nay, làng trống Bắc Thai có khoảng 20 cơ sở làm trống chuyên nghiệp theo hình thức “cha truyền con nối”. Hầu hết, thợ làm trống đều là con cháu dòng họ Bùi như hộ ông Bùi Văn Trăn (SN 1944), ông Bùi Văn Điểng (cố Đỉnh), Bùi Văn Tứ…

Theo cụ Bùi Tụ (80 tuổi), nghề trống đã xuất hiện ở Bắc Thai từ lâu đời, khi cụ sinh ra đã nghe tiếng gõ, tiếng đục và tiếng thùng thình của trống. Thế hệ này truyền thế hệ khác. “Trẻ con trong làng, 10 tuổi đã biết các công đoạn làm trống, lớn hơn vài ba tuổi là biết làm chiếc trống con, rồi 20-25 tuổi đã bắt đầu làm chiếc trống đại…” , cụ Bùi Tụ cho biết.

Những chiếc trống thành phẩm

Người Bắc Thai làm một chiếc trồng mất khoảng 3-4 ngày nếu nguyên liệu có sẵn, ngược lại, có khi mất đến gần cả tháng. Để có được những chiếc trống bền, đẹp, người thợ phải trải qua hơn 10 công đoạn. Trước tiên là chọn gỗ tốt, thường là gỗ mít. Gỗ được phơi khô, đo, cắt, uốn cong, xử lý mối mọt mới được sử dụng làm thân trống. Để phơi khô gỗ, người thợ dùng máy cắt gỗ thành từng thanh mỏng, nhỏ với kích thước khác nhau. Thông thường, nếu nắng to thì chỉ cần 3-5 ngày là có thể sử dụng. Tiếp đó là công đoạn khép thùng, bào môi, đóng dây mây, làm khoen trống. Công đoạn quan trọng quyết định thành hay bại của một cái trống là khâu chọn da trống. Chọn da bò (không dùng da vùng cổ, bụng, đùi vì khi đánh, mặt trống sẽ bị rách). Da bò được mua tại các lò mổ đem về làm sạch, phơi khô.

Đặc biệt, muốn trống có tiếng kêu thanh, vang thì trước khi bịt, da phải được bào thật kỹ. Đây là phần việc rất khó, đòi hỏi người thợ phải có sự tỉ mẩn và cẩn thận. Bởi tùy theo loại trống, dăm trống mà lạng da mỏng hay dày. Nếu làm mặt trống to thì lạng da dày, mặt trống nhỏ thì da mỏng. Sau đó, người thợ cắt da theo kích thước đã định, ngâm nước 12 giờ cho mềm da. Kế đến là dùng dao khoét lỗ nhỏ khoảng 2 ly đều xung quanh vòng tròn miếng da, cách nhau 5 cm. Dây da bò được xâu qua lỗ để đưa qua giàn trò căng mặt trống. Chính kỹ thuật ghép gỗ khéo léo, bí quyết bào da đã tạo nên sự khác biệt cho từng chiếc trống Bắc Thai.

Sau kỹ thuật lắp giàn trò, tăng đơ trống, đóng chốt tre là khâu trang trí. “Hình dáng trống Bắc Thai rất đơn giản. Bình thường, mỗi chiếc trống làm xong chỉ cần vôi ve là được. Nhưng với trống hội hay trống chùa, nếu có yêu cầu, chúng tôi sẽ trang trí hoa văn, màu sắc để thêm sinh động”, ông Bùi Văn Điểng – một nghệ nhân làm trống lâu đời cho hay.

Trống Bắc Thai được chở đi khắp các chợ

Trống Bắc Thai được chở đi khắp các chợ nhưng chủ yếu vẫn là khu vực chợ tỉnh. Giá thành cũng đa dạng, tùy nhu cầu của thị trường. Thông thường, giá một chiếc trống lớn có chiều cao 2,2m từ 10-15 triệu đồng; trống trung bình từ 5-7 triệu đồng/chiếc và loại trống cơm thường khoảng 500.000 đồng/chiếc. Anh Bùi Văn Tứ, con trai cụ Bùi Văn Điểng cho biết thêm: “Giá trống tùy vào kích cỡ, yêu cầu của khách đặt, cùng một kích cỡ nhưng nếu yêu cầu cao thì giá thành sẽ cao hơn…”.


Nghề làm trống đang đem lại thu nhập ổn định cho người dân nơi đây. Trung bình mỗi hộ thu nhập từ 120-150 triệu đồng/năm. Trong khi nhiều làng nghề đang bị mai một vì thiếu nhân lực thì nghề trống Bắc Thai ngày càng được nhân rộng. Nhiều gia đình có đến 3 thế hệ làm trống như hộ ông Bùi Văng Điểng, Bùi Tụ, Bùi Văn Thuận… Không chỉ họ Bùi, nhiều dòng họ khác cũng đang phát triển nghề này, góp phần giữ gìn nghề truyền thống làng Bắc Thai.

Bài viết được dẫn nguồn từ Báo Hà Tĩnh và FanPage: Người Thạch Hội

Mời quý độc giả đọc thêm bài viết về người con xã Thạch Hội : Anh hùng Dương Chí Uyển

Bên cạnh lễ vinh danh dân ca ví, giặm là di sản thế giới (tổ chức tối 31.1 tại Vinh, Nghệ An), vẫn còn có nhiều nghệ sĩ, nghệ nhân gắn bó với những khúc hát ví, giặm cảm thấy tủi thân, chạnh lòng vì bị lãng quên.

Chạnh lòng người nghệ sĩ
Khi nói đến dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, thì phải nói đến nhạc sĩ Lê Hàm, PGS Ninh Viết Giao, nhạc sĩ Thành Lưu, nhạc sĩ Văn Thế, nhạc sĩ Phan Thành… Đây là những con người đã dày công nghiên cứu, bỏ biết bao công sức mồ hồi để sưu tầm, sáng tác và lưu truyền dân ca ví, giặm đến với công chúng. Bên cạnh đó còn có những ca sĩ như Lê Thanh, Sông Thao, Đình Bảo… (nay là nghệ sĩ ưu tú) là những người hát dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh đầu tiên đến với nhân dân… Tiếp đến là những ca sĩ lớp kế cận như Ngọc Hà, Hồng Lựu, Bích Ngọc, Tiến Dũng…. đã thanh danh nhờ dân ca ví, giặm được giới chuyên môn và công chúng đánh giá cao.

Nhạc sĩ Lê Hàm – người dày công nghiên cứu dân ca ví, giặm từ những năm 1970.

Thế nhưng tại buổi tổ chức lễ vinh danh dân ca ví, giặm được tổ chức rất hoành tráng ngày 31.1 vừa qua, những nghệ sĩ ưu tú như Ngọc Hà, Bích Ngọc… và các nhạc sĩ gạo cội như Lê Hàm, Song Thao… đều rất buồn, thậm chí bất bình vì ban tổ chức buổi lễ vinh danh đã “lãng quên” họ. Các nghệ sĩ, ca sĩ, nghệ nhân gắn liền với khúc hát dân ca ví, giặm từ những ngày mới vào nghề được công chúng và giới chuyên môn công nhận ấy, tiếc là không được mời tham gia biểu diễn chương trình; hơn nữa họ còn rất thất vọng khi chỉ một giấy mời xem chương trình thôi mà Ban tổ chức cũng không nhớ đến họ.
Nghệ sĩ ưu tú Phan Thị Ngọc Hà buồn bã cho biết: “Tôi là một ca sĩ, nghệ sĩ tham gia thể hiện những điệu hò, điệu hát ví, giặm ngay từ những ngày đầu tiên bước vào nghề. Sau một thời gian gắn bó với dân ca ví, giặm tôi được công chúng và các ban, ngành công nhận… Những ngày nay tôi rất buồn và tủi lắm, đi đến đâu ai cũng hỏi vì sao mình không được mời tham gia chương trình quan trọng này…”.
Khi trao đổi vấn đề này với ông Phạm Tiến Dũng – Phó Giám đốc Sở VHTTDL Nghệ An, ông Dũng cho biết: “Bản thân tôi cũng cảm thấy chạnh lòng cho các nghệ sĩ. Tuy nhiên, vấn đề không mời 2 nghệ sĩ Ngọc Hà và Bích Ngọc tham gia là chuyện của anh Vũ Hải (nhà biên kịch và đạo diễn chương trình). Tôi rất tiếc cho 2 nghệ sĩ Bích Ngọc và Ngọc Hà vì không được tham gia chương trình quan trọng đó… Đúng là đã có thiếu sót về vấn đề này”.

Nỗi buồn bằng khen
Quan điểm
Bộ trao bằng khen”.Nhạc sĩ Lê Hàm
Tôi là một trong những nhạc sĩ đầu tiên ở Nghệ An cùng PGS Ninh Viết Giao đã dày công nghiên cứu, sưu tầm, cống hiến cho dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh… Thế nhưng chúng tôi thì được tỉnh Nghệ An trao bằng khen, còn những người chỉ có xây dựng hồ sơ, tổ chức hội thảo lại được  
Sáng 31.1, UBND 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh tổ chức lễ vinh danh những nhạc sĩ, nghệ sĩ, nghệ nhân và những người có công đóng góp để Tổ chức UNESCO công nhận dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Tuy nhiên, ngay tại buổi lễ vinh danh này những nhạc sĩ, nghệ nhân như Lê Hàm, Thành Lưu, Văn Thế, Lệ Thanh, Sông Thao, Đình Bảo… chỉ được UBND tỉnh Nghệ An trao tặng bằng khen vì có những đóng góp quan trọng đối với dân ca ví, giặm trong suốt chiều dài hình thành và phát triển loại hình nghệ thuật này. Trong khi đó, điều khiến các nghệ sĩ, nhạc sĩ, nghệ nhân bức xúc là ngay tại buổi vinh danh, hơn 10 cán bộ công chức thuộc Sở VHTTDL Nghệ An như ông Phạm Tiến Dũng (Phó Giám đốc Sở), bà Nguyễn Thị Thanh Hương (Trưởng phòng Kế hoạch Tài chính), bà Đậu Thị Nụ (Phòng Quản lý di sản), bà Phan Thị Bích Hậu (Chánh văn phòng)… chỉ là những người tham gia xây dựng hồ sơ, tổ chức đánh giá sưu tầm, tổ chức hội thảo… thì lại được Bộ VHTTDL trao bằng khen.Trao đổi với nhạc sĩ Lê Hàm- người nhạc sĩ đã gắn bó hơn 60 năm với dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh trong vai trò người sưu tầm, sáng tác, ông tỏ ra bức xúc: “Tôi là một trong những nhạc sĩ đầu tiên ở Nghệ An cùng PGS Ninh Viết Giao đã dày công nghiên cứu, sưu tầm, cống hiến cho dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh…
Thế nhưng chúng tôi thì được tỉnh Nghệ An trao bằng khen, còn những người chỉ có xây dựng hồ sơ, tổ chức hội thảo lại được Bộ trao bằng khen. Tôi cảm thấy chênh lệch lắm. Nếu đúng thực sự tôn trọng chất xám, dày công đi tìm kiếm và cống hiến cho nền dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh thì Bộ phải vinh danh chúng tôi. Ngay cả cái bằng khen của tỉnh cũng không tôn trọng giới nghệ sĩ chúng tôi, buồn lắm nhưng biết làm sao được…”.
Về vấn đề này, ông Phạm Tiến Dũng – Phó Giám đốc Sở VHTTDL cho hay: “Bằng khen của Bộ và của tỉnh là ngang nhau, tôi không biết tiền thưởng trong mỗi bằng khen là bao nhiêu…”.

1. Người Đồng Lộ (Thạch Hà) quê tôi chẳng thể nhớ nổi chợ Trùa có tự bao giờ, chỉ biết người già, trẻ nhỏ trong làng khi lớn lên đã thấy chợ họp theo phiên ở bên một bãi đất trống dọc bờ sông, cạnh một ngôi chùa chỉ còn là phế tích. Dường như chẳng ai có thể nhớ chợ quê (mình) sinh ra từ lúc nào, nhưng có điều chẳng thể quên, chợ quê là trung tâm văn hóa của cộng đồng. Chợ là hồn của quê.

Ngày bé, mỗi lần đến phiên, nội tôi lại mở sập lúa xúc vài mủng gàu (một dụng cụ đo lường làm bằng tre), hoặc buộc túm đôi gà trống kiến, vài buồng cau đem ra chợ bán. Thế đấy, chợ quê trước hết là nơi giao thương, buôn bán những nông sản, thổ sản của địa phương. Đó là thóc, gạo, nải chuối, bó rau, đàn gà con, gánh rơm… của chợ vùng đồng bằng; là mớ cá, mớ tôm còn tươi nguyên, óng ánh ở chợ miền biển, hoặc là túi thổ cẩm, khăn voan, mật ong, sa nhân, những cây kim, hạt muối quý báu từ miền xuôi mang lên miền núi. Lớn lên, tôi còn được biết đến các chợ nổi ở miền Đông, miền Tây Nam bộ mỗi lần họp bồng bênh trên sông, xuồng ghe tấp nập với cây trái, tôm cá – những đặc sản của một vùng kênh rạch phù sa trù phú…

Xưa, người miền xuôi đi chợ, thường cho tất cả hàng hóa vào đôi thúng, đôi sọt rồi quang gánh lên đường, có khi đội thúng lên đầu, cắp mủng vào nách, hoặc chất lên chiếc xe thồ cũ mèm kẽo kọt đi từ sáng sớm. Chợ quê thường họp từ tinh mơ, đến lúc mặt trời lên quá cây sào (7-8h) thì vãn…

Chợ quê, không chỉ là nơi dành cho những người quê đến bán thổ sản mà còn thu hút người ở nơi khác đến bán buôn các loại hàng hóa như: nồi đất, vải, hàng xén… Do đó, nó tạo sự giao thương, mở rộng giữa người bản địa và người vùng khác, không “khép kín”, bó buộc.

Nhưng không đơn thuần là nơi mua bán các mặt hàng. Nó còn là nơi giao lưu tình cảm, thăm hỏi người thân, bạn bè, thông báo tin tức… Chợ miền núi là nơi hò hẹn, là ngày hội của những làn điệu Sli, lượn; của tiếng khèn sáo, điệu nhảy điêu luyện, váy áo, dù nón rực rỡ sắc màu của các chàng trai, cô gái Tày, Nùng, Mèo, Thái… Chợ miền xuôi (thường được mở ở đình làng, bãi đất trống, dưới hàng cây cao râm mát, trên bến, dưới thuyền…). Người ta, đến chợ có khi là để được tận mắt thấy:

Những cô hàng xén răng đen,

Cười như mùa thu tỏa nắng
(Hoàng Cầm)

Hay là để lại được nghe ông xẩm mù ngồi bên cổng chợ hát Phụ tử tình thâm; nghe ông lão bán thuốc lào nghêu ngao rao hàng; xem bà lão miệng bỏm bẻm nhai trầu, tay hướng dẫn cô cháu gái cách têm trầu cánh phượng… Trai khôn chọn vợ chợ đông. Chợ còn là nơi trai làng trên, gái làng dưới làm quen tìm hiểu, là nơi anh em, bạn bè gặp gỡ, trao đổi tin tức, gửi nhau đồng quà, tấm bánh cho người thân.

Có thể nói, ngày chợ là một ngày sinh hoạt kinh tế và văn hóa của người quê. Những người nông dân quanh năm vất vả với ruộng đồng, đồi nương muốn thay đổi không khí, môi trường… để có thể tiếp tục công việc hàng ngày. Vì thế, chợ quê đã đáp ứng được nhu cầu đó. Và mỗi vùng đất đều có một cái chợ riêng, chợ quê chính là hồn của quê. Cái hồn Việt ấy trải dài từ Bắc chí Nam, từ miền xuôi lên miền ngược, tạo nên một nét đặc sắc trong văn hóa người Việt.

Những hình ảnh tại phiên chợ Sa cuối cùng trong năm:


 Chợ được họp ngay trên cầu Ngòi bên đường vào trung tâm du lịch văn hóa Cổ Loa


Lá dong gói bánh chưng, thứ không thể thiếu trong phiên chợ cuối cùng của năm nên người buôn bán khắp nơi đổ xô về họp chợ


Chú Nguyễn Văn Sự, quê ở Mê Linh, chuyên bán mo cau cho biết: “Để chọn được chỗ ngồi bán hàng tôi phải đến từ 3h sáng. Phiên chợ cuối cùng trong năm nên rất đông, không có chỗ để ngồi đâu.”


40 nghìn một quả bưởi bày mâm ngũ quả


Đồ ở chợ quê giá rất “mềm”


Các cụ già mua trầu cau


Bà Thế, xóm Trại, Cổ Loa mang bán cau trồng được


Hai chị em bà Út đã gần 90 tuổi vẫn mang bưởi nhà ra chợ bán


Phiên chợ quê ngày cận Tết ở đây không thể thiếu những phẩm oản đỏ chót


Những buồng chuối cũng được pha và bán ngay tại chợ


Chú Long bán chiếu luôn miệng mời chào khách


Sắm hoa cảnh chơi Tết


Chợ đào bán dạo

2. Giữa thời buổi kinh tế thị trường, nhà hàng, siêu thị mọc lên như nấm, chợ quê vẫn còn chỗ đứng của nó. Bởi chợ quê phần đông là dành cho những người quê đi bán sản vật của nhà mình, để rồi mua lấy những gì đang cần… Tuy nhiên, chỗ đứng ấy đang có nguy cơ bị thu hẹp, mai một bởi sự “tấn công” của quá trình đô thị hóa.

Hầu hết chợ quê hôm nay đã được quy hoạch xây dựng một cách thuận tiện, đàng hoàng, khang trang. Hàng hóa đa dạng, đầy ắp các chủng loại. Cạnh chợ là các “phố” mua sắm, ăn uống, vui chơi… Cho nên, bây giờ, mọi người thường để ý đến hàng hóa, giá cả nhiều hơn là trò chuyện. Sự giao lưu giữa người bán hàng với người mua hàng gần như là rất ít. Khác với ngày xưa, chưa có điện thoại, internet, nên chợ là nơi trao đổi thông tin rất quan trọng, không đi chợ coi như bị mù tịt về thông tin. Đi chợ mới biết nhà nọ có đàn lợn nái vừa mới đẻ, sang mua con giống về nuôi. Đi chợ mới biết ở làng trên, nhà A vẫn còn dư lạc giống, hay sắp tới xã huy động dân làm thủy lợi…

Câu ca: Trai khôn tìm vợ chợ đông… dường như đã trở thành quá vãng ở vùng chợ quê miền xuôi. Chợ bây giờ không còn là nơi trai gái tìm hiểu, mà xô bồ khác xưa… Sự thân thiện, đẹp đẽ và đầy ắp tình người của chợ xưa dường như đã bị mai một. Người đi chợ bây giờ luôn “thấp thỏm” bị lừa mua phải hàng đắt, hàng dỏm, hết thời hạn sử dụng… Người bán bây giờ không ít kẻ gian manh. Thế là ngôn ngữ “kẻ chợ” – thứ ngôn ngữ ngày xưa người đi chợ rất ít dùng, bây giờ có khi lại “thông dụng”, làm cho nét đẹp văn hóa chợ quê bị ảnh hưởng.

Chợ quê bây giờ cũng đang dần đánh mất vẻ đẹp vốn có bởi rác thải và nỗi lo an toàn vệ sinh thực phẩm. Ngày xưa, ở chợ, người ta gói hàng bằng các loại lá, không ảnh hưởng đến môi trường: lá môn dùng gói ruốc, lá chuối gói bánh đúc, bánh mướt, thịt lợn… Còn bây giờ, túi ni lông xuất hiện, tràn lan khắp nơi, gây ảnh hưởng đến môi sinh, môi trường, mỹ quan của chợ. Rồi đến thực phẩm không rõ nguồn gốc; chân trâu, bò, thịt thối được “tẩy rửa” qua hóa chất; rau, củ quả ngập thuốc bảo quản của Tàu được đem về chợ quê tiêu thụ…

Theo Đề án “Phát triển thương mại nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020”, hiện nay, khu vực nông thôn của Hà Tĩnh có 247 xã, thị trấn, trong đó 155 xã có chợ, 92 xã không có chợ. Theo quy hoạch phát triển chợ, quy hoạch xây dựng nông thôn mới, đến năm 2020 có 187 xã quy hoạch chợ nông thôn mới. Thiết nghĩ, trong quá trình quy hoạch, triển khai xây dựng mới, các cơ quan chức năng cần tính đến các tiêu chí để bảo tồn, gìn giữ, phát huy nét đẹp của chợ quê.

MAI HOÀNG - Báo Hà Tĩnh

Sâu Ciu Blog