vietnamese Tiếng Việt english English
Hôm nay:
Tin mới đăng:


Trong 25 năm tới, nếu Mỹ có thể ngăn chặn Trung Quốc có cơ hội dễ dàng gây sức ép với các nước, cục diện Châu Á có thể thay đổi theo hướng là biến Trung Quốc thành một quốc gia mạnh giữa những quốc gia mạnh khác. Kết quả này thoả mãn các nước  Mỹ và Châu Á và cũng sẽ thỏa mãn một Trung Quốc có vai trò lãnh đạo nhưng không tìm cách xây dựng bá quyền.

Mỹ xoay “trục” sang Châu Á, trong khi căng thẳng ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương gia tăng khi Bắc Kinh ngày càng trở nên quyết đoán hơn. Trung Quốc có các hoạt động mở rộng vùng đất xung quanh các đảo tranh chấp và triển khai lực lượng tại đây. Tại diễn đàn Shangri-La, Bộ trưởng Quốc phòng (BTQP) Mỹ Ashton Carter đã bày tỏ lo ngại về viễn cảnh tăng cường quân sự hóa ở khu vực cũng như các hoạt động làm tăng nguy cơ xung đột giữa các quốc gia tuyên bố chủ quyền ở Biển Đông.

Cũng tại diễn đàn này Shangri-la, Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long đã kêu gọi đạt được “một sự cân bằng ổn định cho khu vực”. Tuy nhiên, làm thế nào để có thể đạt được sự cân bằng đó, trong bối cảnh tiềm lực kinh tế và quân sự của Trung Quốc không ngừng lớn mạnh, và Mỹ thì ở quá xa Châu Á? Ngày hôm nay Washington có thể đứng lên bảo vệ tự do hàng hải và ngoại giao đa phương nhưng một số ý kiến lo ngại rằng, trong tương lai, khoảng cách địa lý và sự dịch chuyển dần dần quyền lực về phía Trung Quốc sẽ cản trở nỗ lực của Mỹ. Nếu Trung Quốc cứ tiếp tục hành động xây cất ở Biển Đông thì Mỹ sẽ phải làm gì? Một mình nước Mỹ không thể trả lời được câu hỏi đó.

Từ cuối thập niên 1980, Trung Quốc đã có không gian thuận lợi để trỗi dậy khi mà các kẻ thù và đối thủ chính trong khu vực bị suy yếu. Xô Viết sụp đổ cùng với sự suy giảm ảnh hưởng của Nga trong khu vực. Nhật Bản bị hạn chế về quân sự và ngoại giao do hậu quả của chiến tranh. Mỹ thì lại lún sâu vào cuộc chiến tranh ở Iraq và Afghanistan. Về kinh tế, các đối thủ của Trung Quốc tại Châu Á như Hồng Công, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan - tuy tốc độ tăng trưởng kinh tế phát triển nhanh nhưng quy mô còn hạn chế. Nhật Bản thì bị tê liệt bởi cuộc khủng hoảng tài chính, trong khi Ấn Độ chỉ mới bắt đầu cải cách kinh tế từ đầu những năm 1990. Còn kinh tế Việt Nam thì mới phục hồi sau 30 năm chiến tranh.

Tuy nhiên thời kỳ hoàng kim của Trung Quốc đã kết thúc. Tăng trưởng kinh tế Trung Quốc đã chậm lại. Trong khi đó, Nhật Bản đang nổi lên như một cường quốc quân sự độc lập và nền kinh tế của nước này đã thoát khỏi tình trạng trì trệ. Tốc độ tăng trưởng kinh tế Ấn Độ hiện nay nhanh hơn Trung Quốc và có thể tiếp diễn như vậy trong thời gian tới. Chi tiêu quốc phòng của Ấn Độ cũng tăng nhanh trong thời gian gần đây. Indonesia và Việt Nam cũng đạt được tốc độ phát triển kinh tế đáng chú ý. Nga có thể sẽ vẫn là một cường quốc hạt nhân với một xã hội suy thoái. Mối lo âu của Moscow đối với sự trỗi dậy của Bắc Kinh là có thật nhưng nó đang bị kiềm chế bởi Nga đang cần một người ủng hộ đối với vấn đề Ucraina.

Liệu sự lớn mạnh của các quốc gia khác, ngoài Trung Quốc, trong khu vực có đồng nghĩa với việc Mỹ có thể yên tâm “rời xa” khu vực này? Mỹ hầu như không thể làm điều đó bởi vì các nước láng giềng của Bắc Kinh cần ít nhất 25 năm nữa mới có thể đuổi kịp nước này, mới có đủ sức mạnh kinh tế và quân sự để có được một sự cân bằng tương đối với Trung Quốc. Và khoảng thời gian từ giờ đến lúc đó thực sự rất nguy hiểm. Lý do là khi đối phó với nhiều nước Châu Á đang lên nhưng vẫn bị chia rẽ và yếu thế hơn Trung Quốc, Bắc Kinh sẽ tìm cách khi thì ve vãn, lúc lại dùng vũ lực đối với từng nước một. Chỉ có Mỹ có thể cung cấp một “chiếc ô an ninh” để giúp khôi phục sự cân bằng tại Châu Á.

Trong 25 năm tới, nếu Mỹ có thể ngăn chặn Trung Quốc có cơ hội dễ dàng gây sức ép với các nước, cục diện Châu Á có thể thay đổi theo hướng là biến Trung Quốc thành một quốc gia mạnh giữa những quốc gia mạnh khác. Kết quả này thoả mãn các nước Châu Á và Mỹ và cũng sẽ thỏa mãn một Trung Quốc có vai trò lãnh đạo nhưng không tìm cách xây dựng bá quyền.

Bài viết của  Rosen, Giáo sư về an ninh và quân sự quốc gia thuộc trường Harvard. Bài viết được đăng trên The Wall Street Journal.

Trần Quang (gt)

(Nghiên Cứu Biển Đông)


Hiếm có một nhà lãnh đạo châu Á vĩ đại nào mà sự ra đi lại nhận được nhiều sự trân trọng của phương Tây như ông Lý Quang Diệu. Con số các lời ca ngợi dành cho người đã lãnh đạo Singapore trở thành một quốc gia thành công và có tầm ảnh hưởng là rất lớn.

mr-lee-kuan-yewBất chấp sự khác biệt rất lớn về quy mô và văn hóa chính trị – pháp luật giữa Singapore và Trung Quốc đại lục, nhiều nhà quan sát đã nhấn mạnh sức thu hút đầy quyễn rũ mà “mô hình Singapore” đã tạo ra đối với các nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc, những người đang tìm kiếm một công thức giúp thúc đẩy sự phát triển kinh tế phi thường của Trung Quốc mà không phải hy sinh quyền kiểm soát mang tính chuyên quyền của Đảng Cộng sản.

Các tác giả khác tập trung thể hiện sự thông thái, tính cách tự tin và sự am hiểu nền chính trị thế giới của ông Lý, những điều mà ông đã truyền lại “miễn phí” cho các nhà lãnh đạo của các nước khác nhau trên thế giới vốn đang háo hức xóa bỏ khoảng cách giữa Đông và Tây. Trong khi đó, một số bài bình luận sau sự ra đi của ông Lý lại vượt ra ngoài xu hướng tự nhiên đó, khi đánh giá thấp giá trị những thành tựu của ông Lý, đặc biệt là các chính sách và phong cách làm việc độc đoán của ông.

Bài viết này sẽ góp thêm một số tư liệu vào kho tàng tư liệu của các nhà sử học bằng cách cung cấp những câu chuyện cá nhân giữa tôi với Thủ tướng Lý Quang Diệu mấy chục năm trước.

Mọi chuyện bắt đầu từ khi Richard Nixon được bầu làm tổng thống Mỹ tháng 11 năm 1968. Ngay lập tức sau đó, theo lời mời của Học viện Chính trị Kennedy mới được thành lập, ông Lý Quang Diệu xuất hiện ở Đại học Harvard không phải để có những phóng sự ảnh như hầu hết các nhà lãnh đạo thế giới ưa thích, mà để ngụ lại ở đó trong vòng một tháng. Khi đó, tôi đang là một giáo sư trường luật và chủ trì công trình nghiên cứu mật vừa mới hoàn thành về nhu cầu cần có một chính sách mới của Hoa Kỳ đối với Trung Quốc. Giám đốc của Học viện Richard Neustadt đã yêu cầu tôi đảm nhận một số trách nhiệm trong việc tiếp đón ông Lý Quang Diệu.

Tôi biết rằng, ông Lý, người từng đạt thành tích học tập nổi trội khi còn là một sinh viên luật ở Cambridge của Anh, tham gia cùng với chúng tôi không phải để có một kỳ nghỉ phép kết hợp nghiên cứu nhằm nạp lại năng lượng vốn đã tràn đầy của ông. Ông nói rõ với chúng tôi rằng, ông tới với chúng tôi là vì công việc và công việc của ông là tìm hiểu các động lực đang định hình một xã hội Hoa Kỳ đầy biến động, để từ đó ông có thể vạch đường phát triển tốt hơn cho Singapore.

Sớm hơn so với hầu hết các chính khách, ông nhận thấy rằng Hoa Kỳ – bị chia rẽ bởi cuộc chiến tranh Việt Nam – đang xem xét việc thay đổi chính sách đối với châu Á, đặc biệt là quan hệ của nước này với Trung Quốc, bất chấp những điều tồi tệ đang diễn ra trong cuộc Cách mạng Văn hóa. Một năm trước khi đắc cử, Nixon dù chủ trương chống Cộng nhưng đã ám chỉ nhu cầu cần một cách tiếp cận mở hơn với Bắc Kinh nhằm cân bằng tốt hơn cán cân quyền lực với Liên Xô. Ông Lý đã quyết định rằng, bằng cách ngụ lại tại một nơi ở Mỹ, nghiên cứu các phương tiện truyền thông và khai thác các ý tưởng trong cộng đồng chính trị và chính sách ngoại giao của khu vực Boston, ông có thể dự đoán tốt nhất xu hướng mới của Washington.

Ông Lý đã làm việc rất chăm chỉ tại Đại học Harvard. Ông không tìm kiếm các cơ hội thuyết trình mà tận dụng mọi cơ hội để học hỏi. Tôi đã mời ông tới một seminar kết hợp ăn trưa dành cho các sinh viên luật quan tâm tới châu Á và ông đã có một cuộc trao đổi thẳng thắn, thoải mái về cả các vấn đề của châu Á cũng như chính trị của Hoa Kỳ. Ông đặt nhiều câu hỏi và cũng trả lời nhiều câu hỏi của các sinh viên. Ông không thể hiện một chút kiêu ngạo nào mà trước đó bản thân ông đã bị cáo buộc.

Tôi thích ông ấy. Và vợ tôi, Joan Lebold Cohen – một chuyên gia nghiên cứu nghệ thuật châu Á – cũng vậy. Tôi đã mời ông tới nhà ăn tối cùng một vài đồng nghiệp của chúng tôi tại Đại học Harvard. Một lần nữa, các cuộc đối thoại rất sống động, giàu thông tin và thân thiện. Có lẽ vì chúng tôi chưa có kinh nghiệm tiếp đãi giới ngoại giao, chúng tôi thấy thật lạ khi nhận các hướng dẫn viết bằng tay từ các nhân viên của ông Lý về việc không nên hút thuốc khi có sự hiện diện của Thủ tướng, rằng nên để điều hòa của căn phòng ở một nhiệt độ cụ thể nào đó và không nên phục vụ một số loại thực phẩm nhất định. Nhưng đó là một buổi tối vui vẻ.

Mùa hè năm kế đó, 1969, Joan và tôi thăm Singapore ngắn ngày trong khuôn khổ chuyến đi nghiên cứu châu Á. Thủ tướng Lý Quang Diệu đã chứng minh ông là một chủ nhà chu đáo. Để bày tỏ lòng mếm khách, ông đã mời chúng tôi tới một bữa tiệc bàn tròn cùng với giới tinh hoa trong ngành tư pháp của Singapore, bao gồm Tổng chưởng lý (attorney general), Bộ trưởng Bộ Tư pháp, Phó Tổng chưởng lý (solicitor general), một hoặc hai giáo sư luật và vợ ông, người bản thân cũng là một luật sư hàng đầu.

Cuộc trò chuyện bao quát nhiều chủ đề. Biết tôi đang cố vấn cho Thượng nghị sĩ Edward Kennedy, người dù còn rất trẻ nhưng đã được kỳ vọng sẽ trở thành đối thủ trong cuộc tái tranh cử của Nixon sau 3 năm nữa, chúng tôi thảo luận về những diễn tiến trong chính trị Hoa Kỳ kể từ khi ông Lý rời Harvard. Ông Lý, trong thời gian ở Harvard cảm thấy không hài lòng trước phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam và làn sóng chống chính phủ, đã bày tỏ lo ngại về  sự khôn ngoan (hay thiếu khôn ngoan) cũng như sức ảnh hưởng của thanh niên Mỹ. Sau khi trở về nước, ông Lý bắt đầu yêu cầu những thanh niên phương Tây xuất hiện tại các sân bay của Singapore phải cắt tóc trước khi được vào đất nước này. Ông muốn hạn chế nguy cơ lây lan tinh thần đó sang những thanh niên Singapore.

Tối hôm đó, ông Lý còn bày tỏ sự không hài lòng đối với tuyên bố mới đây của chính phủ Malaysia yêu cầu tất cả sinh viên học tiếng Malay. Với nguồn cảm hứng mạnh mẽ hơn so với những gì tôi thấy ông thể hiện tại Harvard, ông hỏi một cách hoa mỹ rằng, mục đích tốt đẹp của việc thực hiện mệnh lệnh đó là gì. Nếu Malaysia muốn triển khai tốt công cuộc hiện đại hóa của mình, nước này cần đảm bảo rằng mọi sinh viên phải thành thạo tiếng Anh. Ông cho rằng tiếng Malay đơn giản là một tấm hộ chiếu để vào rừng (chỉ sự lạc hậu – ND).

Chỉ một điều khác nữa của tối hôm đó mà tôi còn nhớ chính là cuộc trò chuyện giữa tôi và Tổng chưởng lý Tan Boon Teik khi ông lái xe đưa chúng tôi về khách sạn sau bữa tối. Ông thành thật: “Tôi thích cách anh đối đáp với ngài Thủ tướng”. Trên thực tế, không ai trong bàn ăn dám nói đế vào một từ trong suốt cuộc trao đổi dài của tôi với ông Lý.

Bốn năm sau, năm 1973, chủ yếu là nhờ chuyến công du ngoạn mục của Nixon tới Trung Quốc năm 1972, thế giới bắt đầu thay đổi đúng như dự đoán của ông Lý. Nhiều cựu sinh viên luật Đại học Harvard của tôi mong muốn tham gia vào kỷ nguyên mới này. Một nhóm trong số họ, những người đã tìm được công việc trong công ty luật quốc tế nổi tiếng Coudert Brothers, đã nhờ tôi giúp Coudert thiết lập các văn phòng ở Hồng Kông và Singapore. Chính phủ thực dân Anh ở Hồng Kông đã cho phép một công ty luật của Canada mở văn phòng, nhưng đất nước Singapore mới giành độc lập vẫn chưa cho phép bất cứ công ty nước ngoài nào thiết lập chi nhánh.

Như hầu hết các thủ đô của các nước châu Á hấp dẫn các công ty luật nước ngoài, giới luật sư trong nước phản đối mạnh mẽ sự gia nhập của các công ty này nhằm duy trì thế độc quyền trong hành nghề luật. Tuy nhiên, chính phủ Singapore, được dẫn dắt bởi quyết tâm của Thủ tướng Lý Quang Diệu nhằm đẩy nhanh công cuộc hiện đại hóa đất nước, kỳ vọng rằng sự xuất hiện của các công ty luật quốc tế lớn giàu kinh nghiệm trong việc thúc đẩy đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ giúp nâng cao chất lượng nghề luật của nước này. Các công ty này sẽ cung cấp sự đào tạo tốt hơn và tạo nhiều việc làm cho các luật sư trẻ của Singapore cũng như củng cố niềm tin của các công ty đa quốc gia vào  Singapore.

Dĩ nhiên, chính phủ Singapore không muốn làm ngơ sự phản đối của các luật sư trong nước. Chính Thủ tướng Lý đã hành nghề luật trong nhiều năm trước khi bước chân vào chính trường và vợ cùng em trai ông vẫn tiếp tục điều hành một trong những công ty luật nhiều lợi nhuận. Ông đã khéo léo thực hiện sự thay đổi từng bước, với sự dẫn đường của Coudert, và các công ty nước ngoài khác đã được chấp nhận (cho vào Singapore) khi thị trường dịch vụ dần phát triển.

Nghề luật ở Singapore thực sự rất khó chống lại sự thay đổi đó, bởi tới lúc đó những ảnh hưởng và uy tín hạn chế mà nó được thừa hưởng từ hệ thống thuộc địa của Anh đã bị suy giảm đáng kể.

Một trong những điểm nổi bật trong những hoạt động không ngừng nghỉ của ông Lý nhằm bảo đảm và duy trì quyền lực chính là việc khiến các luật sư, các nhà lập pháp, các công tố viên và các thẩm phán tuân phục theo ý chí của ông. Việc “giam giữ phòng ngừa” mà không cần xét xử đối với các luật sư và các nhà dân chủ bất đồng chính kiến khác chỉ là một trong những công cụ ông sử dụng để đàn áp không chỉ các thiết chế luật pháp mà còn cả giới truyền thông, xã hội dân sự và các đảng đối lập. Năm 1969, khi Thủ tướng Lý Quang Diệu không hài lòng với một số phán quyết của bồi thẩm đoàn trong một vụ án lớn, ông đã bãi bỏ hoàn toàn bồi thẩm đoàn, một trong những thiết chế thiêng liêng nhất của thông luật (common law), và các luật sư nào phàn nàn đã bị đe dọa.

Tháng 5 năm 1988, tôi thực hiện chuyến thăm cuối cùng tới Singapore theo yêu cầu khẩn cấp của các tổ chức nhân quyền quốc tế. Quay trở lại về vấn đề giam giữ mà không cần xét xử của Lý Quang Diệu, ông đã bỏ tù nhiều nhà hoạt động xã hội Thiên chúa giáo và các luật sư có khuynh hướng cải cách khi các nhà hoạt động và các luật sư này cố gắng giáo dục công chúng về sự bóc lột của Singapore đối với các công dân chịu thiệt thòi nhất của nước này và các công nhân nước ngoài, cũng như nhu cầu tăng cường các luật và quy định về lao động.

Dựa trên công thức đã được thử nghiệm qua thời gian trong việc quy những sự bất đồng chính kiến hợp pháp thành các mối đe dọa an ninh quốc gia, chính quyền của ông Lý đã tố cáo một cách không phù hợp nhóm này là một phần của một ‘âm mưu Mác-xít’ có trụ sở tại Luân Đôn quyết tâm lật đổ nhà nước. Lời buộc tội vô căn cứ này cho phép chính phủ Singapore viện dẫn Đạo luật An ninh Nội bộ khét tiếng – vốn có âm hưởng giống các luật lệ hà khắc nhất của chế độ thuộc địa Anh – để bắt giữ các nhà phê bình của nước này mà không cần phải để lộ bất kỳ thông tin liên quan nào cho tòa án hoặc cộng đồng giám sát.

Khi báo cáo cho biết ông Lý Quang Diệu sẽ chuẩn bị bắt giam luật sư bào chữa chính, Francis Seow, cộng đồng nhân quyền quốc tế đã bày tỏ sự quan ngại nghiêm trọng hơn lúc nào hết. Seow, một cựu Phó Tổng chưởng lý năng nổ và là Chủ tịch của Hội luật gia, đã chống lại một cách bất thành những động thái độc đoán của ông Lý trong nhiều năm, nhưng những nỗ lực trước đó nhằm kiềm chế và bịt miệng Seow của chính quyền Singapore đã không thể hăm dọa nổi ông.

Lúc đó tôi đang làm việc và sinh sống tại Hồng Kông và vì hai tổ chức nhân quyền quốc tế biết mối liên hệ trước đây của tôi với ông Lý nên họ yêu cầu tôi bay đến Singapore trong một nỗ lực nhằm ngăn cản ông Lý bắt giữ Seow. Tôi nhanh chóng sắp xếp một chuyến đi thú vị trong ngày. Buổi sáng tôi tới tòa án để xem Seow nỗ lực trong vô vọng để giành được sự giảm án cho các thân chủ vốn bị bỏ tù bất hợp pháp bằng cách viện dẫn các quy định bảo vệ (người dân) theo hiến pháp tự do của nhà nước trước các vị thẩm phán lạnh lùng.

Sau đó tôi ăn trưa với người bạn cũ của tôi, Tan Boon Teik, người vẫn còn là Tổng chưởng lý. Ông lịch sự nghe tất cả các lập luận của tôi về lý do tại sao sẽ là một tai họa cho uy tín của Singapore trong giới nhân quyền và pháp lý phương Tây nếu chính phủ nước này tiếp tục ngang nhiên vi phạm hiến pháp của quốc gia và làm xói mòn các quy tắc của pháp luật bằng cách bắt giữ các luật sư biện hộ, những người bảo vệ hợp pháp của các bị cáo. Đúng như mong đợi của tôi, ông đã nói với tôi rằng, mọi thứ sẽ được đề cập trong cuộc họp  một tiếng đồng hồ mà tôi đã được đặt lịch với Thủ tướng Lý Quang Diệu bắt đầu từ 4 giờ. Tôi biết đó sẽ là một cuộc đấu tranh đầy khó khăn, thử thách.

Ông Lý đã tiếp đón tôi hết sức thân mật. Khi tôi chia tay ông lúc 5 giờ chiều, tôi nghĩ rằng có lẽ chuyến đi của tôi đã không tỏ ra vô ích. Tuy nhiên, khi tôi trở về khách sạn để xem tin tức truyền hình lúc 6 giờ, tôi biết được rằng Francis Seow đã bị bắt giam ngay sau lúc 4 giờ với tội danh cấu kết với một nhà ngoại giao Mỹ để thúc đẩy sự can thiệp của Mỹ vào chính trị Singapore.

Tôi ít khi nổi giận nhưng tôi tin rằng sự tiếp đón của ông Lý là một trò lừa khéo léo. Sau khi trở về Hồng Kông, BBC, cơ quan báo chí gần như là duy nhất của phương Tây được phép tự do tiếp cận Singapore vào thời điểm đó, đã gọi điện để hỏi quan điểm của tôi đối với vụ giam giữ Seow. Tôi công kích hành động của ông Lý vì những gì thực tế đã diễn ra. Những người bạn ở Singapore sớm báo cho tôi biết rằng cuộc phỏng vấn đã được phát sóng nhiều lần trong ngày hôm đó và khiến ông Lý tức giận. Họ khuyên tôi nên chờ đợi một khoảng thời gian hợp lý trước khi lên kế hoạch quay lại Singapore. Mặc dù cách đây hơn chục năm, tôi được nhắn rằng dù tất cả mọi việc vẫn chưa được tha thứ, nhưng một chuyến thăm Singapore khác vẫn được chấp nhận, tôi đã không bao giờ quay trở lại.

Hiện nay, các nhà sử học sẽ là những người phải tiến hành các nghiên cứu cần thiết để có một quan điểm cân bằng và toàn diện về sự nghiệp đầy phức tạp của Thủ tướng Lý Quang Diệu. Cho đến tận bây giờ, nhiệm vụ này đã bị cản trở bởi những hạn chế khắc nghiệt mà ông Lý và những người ủng hộ ông đã áp đặt lên sự nghiên cứu và thể hiện (quan điểm) tự do trong quốc gia của họ. Tuy nhiên, may mắn thay, một lượng công trình nghiên cứu đầy ấn tượng đang nổi lên liên quan đến những thành tựu và hạn chế trong những nỗ lực đặc biệt và thành công của Lý Quang Diệu trong việc khoác lên sự tiến bộ kinh tế và xã hội của Singapore một vẻ bề ngoài của tính chính danh mà sự thao túng khéo léo ‘nền pháp quyền’ có thể mang lại cho một chính phủ chuyên quyền và tùy ý.

Phần lớn các nghiên cứu này đã được thực hiện bởi những người Singapore không thể theo đuổi việc nghiên cứu của họ trong nước, mà phải nỗ lực để có những đóng góp lớn ở nước ngoài. Nổi bật trong nhóm này là Giáo sư nghiên cứu Jothie Rajah của Quỹ Luật sư Hoa Kỳ. Cuốn sách Authoritarian Rule of Law (Nền pháp quyền chuyên chế) xuất bản năm 2012 của bà phơi bày thành công “một cấu hình của pháp luật, chính trị và tính chính danh vốn có thể tạo ra những hệ quả sâu rộng cho lý luận và chính trị trên toàn thế giới”.

Nghiên cứu về Singapore của Rajah gián tiếp làm sáng tỏ nỗ lực liên tục của Bắc Kinh trong việc phát triển một hệ thống pháp luật phù hợp với nhu cầu hiện tại. Bất chấp sự sản sinh liên tục các quy phạm và hình thức pháp luật kiểu phương Tây của Trung Quốc, trên thực tế Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dường như có ý định khôi phục và áp dụng tinh thần của sự pha trộn độc đáo của Trung Quốc truyền thống giữa đạo Khổng vốn đề cao thứ bậc và chủ nghĩa pháp trị hà khắc.

Ông Tập hẳn đã hối hận rằng những người tiền nhiệm trong Đảng Cộng sản của ông đã cam kết nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tôn trọng những hạn chế chính thức đối với chính phủ theo quy định của ít nhất 26 hiệp ước về nhân quyền quốc tế. Ngược lại, mặc dù là một luật sư được đào tạo ở Cambridge rất đáng tự hào, ông Lý đã quá khôn ngoan để có thể để đất nước của ông tham gia các công ước chính về nhân quyền. Dưới vỏ bề ngoài chính thức theo pháp luật phương Tây, Singapore của ông Lý Quang Diệu mang những dấu vết quan trọng của một Trung Quốc phong kiến vốn sử dụng pháp luật như là một công cụ cho việc cai trị của chính phủ mà không bị ràng buộc bởi những quan niệm về các quyền cá nhân – bao gồm quyền có luật sư biện hộ độc lập.

Năm 1988, tôi đã có dịp chứng kiến thoáng qua cách thức hoạt động của một hệ thống chính trị như thế và nó không hề tốt đẹp.

Nguồn: Jerome Cohen, “Glimpses of Lee Kuan Yew”,  East Asia Forum, 25/05/2015.

Biên dịch: Trần Văn Thắng | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Jerome A.Cohen là Giáo sư luật học tại Đại học New York. Ông là đồng Giám đốc của Viện Luật Mỹ – châu Á thuộc Đại học New York và là nghiên cứu viên dự thính cấp cao tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại.

(Nghiên Cứu Quốc Tế)

Thay đổi trong thành phần 'bộ tứ' lãnh đạo cao cấp của Đảng và nhà nước Việt Nam trong Đại hội 12 của ĐCSVN tới đây vẫn còn là một dấu hỏi chưa có lời giải.

Hiện vẫn còn có phần quá sớm và có thể là 'khá rủi ro' để nhận định 'bộ tứ lãnh đạo' tương lai của Việt Nam sau Đại hội 12 của Đảng Cộng sản Việt Nam (sự kiện được dự kiến diễn ra vào đầu năm 2016) sẽ ngả về gần Mỹ hơn là Trung Quốc, hay ngược lại, theo Tiến sỹ Nguyễn Quang A từ Hà Nội.

Gần đây, trong một trao đổi với Tọa đàm Trực tuyến của BBC về quan hệ Việt - Mỹ, một nhà nghiên cứu từ Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Tiến sỹ Lê Hồng Hiệp nêu quan điểm cho rằng có thể sẽ có sự dịch chuyển trong cán cân của lãnh đạo cao cấp Bộ Chính trị Việt Nam trong quan hệ tay ba Việt - Mỹ - Trung.

Ông Lê Hồng Hiệp, người đang là khách mời nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Đông Nam Á tại Singapore, nói:
Theo tôi nếu nhìn nhận tương quan lực lượng trong đội ngũ lãnh đạo sắp tới mà theo như phân tích của tôi vừa rồi, tôi nghĩ cán cân sẽ nghiêng nhiều hơn về phía Hoa Kỳ - Tiến sỹ Lê Hồng Hiệp
"Theo tôi nếu nhìn nhận tương quan lực lượng trong đội ngũ lãnh đạo sắp tới mà theo như phân tích của tôi vừa rồi, tôi nghĩ cán cân sẽ nghiêng nhiều hơn về phía Hoa Kỳ.

"Tức là đội ngũ, ê-kíp lãnh đạo mới mà nếu như theo phân tích của tôi, có thể có xu hướng dịch chuyển nhiều hơn về phía Hoa Kỳ.

"Tuy nhiên, cái dịch chuyển đó sẽ không quá lớn.

"Và một điều nữa như tôi... đã nói là không hoàn toàn phụ thuộc vào đội ngũ lãnh đạo Việt Nam;

"Mà nó còn phụ thuộc vào các bước đi của Trung Quốc, cũng như cảm nhận của Việt Nam về mối đe dọa của Trung Quốc ở trên Biển Đông," TS. Lê Hồng Hiệp nói với BBC hôm 04/6/2015.

'Khá là rủi ro'

Bình luận về quan điểm này, Tiến sỹ Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Phản biện Chính sách Độc lập (IDS - đã tự giải thể), nói:


"Tôi thấy anh (Lê Hồng) Hiệp nói có lý của anh ấy, là bởi vì nhìn tương quan lực lượng thực bây giờ, có thể nói công việc quá khứ của những người mà có thể vào những chức vụ như thế (Tổng bí thư Đảng CS, Chủ tịch Nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội);

"Và một điểm thứ hai tôi cũng đồng ý với anh Hiệp là cái này chính là do công của Trung Quốc, là bởi vì Trung Quốc họ làm những việc hết sức là 'lố lăng' và bất luận những người ấy là ai, thì cũng đẩy người ta về phía Mỹ nhiều hơn.

"Là bởi vì tất cả những việc mà Trung Quốc làm làm cho tất cả người dân Việt Nam càng nhận thức rõ rằng Trung Quốc là một ông láng giềng rất là to, nhưng rất xấu chơi.

"Và trong trường hợp ấy, những người lãnh đạo, dẫu họ thế nào chăng nữa, thì những người ấy cũng bị ảnh hưởng bởi nhận xét chung của dân chúng như vây."
Cho nên tôi nghĩ rằng việc tiên đoán những hiện tượng phức tạp như thế trong ngắn hạn, tức là trong độ khoảng nửa năm nữa, 6-7 tháng nữa, thì tôi thấy khá là rủi ro và có lẽ là không nên bận tâm quá về chuyện dự đoán như thế - Tiến sỹ Nguyễn Quang A
Tuy nhiên, Tiến sỹ Quang A cho rằng có lẽ còn hơi sớm và có thể là 'khá rủi ro' để đưa ra nhận định về 'chuyển dịch đường lối đối ngoại trong nhân sự cao cấp của Đảng và nhà nước Việt Nam'.

Ông nói:

"Đấy là môt nửa bình luận có thể nói là tán thành với ý kiến của anh Hiệp, tuy nhiên tôi nghĩ rằng những chuyện như thế cũng chỉ là một sự phỏng đoán mà thôi. Sự phỏng đoán ấy còn phải đặt rất nhiều câu hỏi ở sự phỏng đoán đây.

"Bởi vì đầu tranh giữa các thế lực trong nội bộ Đảng, rồi bản thân sự phức tạp của hoạt động chính trị của Việt Nam nó khó cho người ta có thể hiểu cặn kẽ những động lực đằng sau như thế nào.

"Bởi vì nhìn trên bề mặt, mình có thể thấy hiện tượng có vẻ là như vậy, nhưng mà chưa chắc nó đã phải là như vậy.

"Cho nên tôi nghĩ rằng việc tiên đoán những hiện tượng phức tạp như thế trong ngắn hạn, tức là trong độ khoảng nửa năm nữa, 6-7 tháng nữa, thì tôi thấy khá là rủi ro và có lẽ là không nên bận tâm quá về chuyện dự đoán như thế," nhà quan sát tình hình chính trị, xã hội Việt Nam nói với BBC hôm 07/6 từ Hà Nội.

(BBC)


Trong một phiên họp của Quốc hội Việt Nam vào đầu tháng 6/2015, một Đại biểu là Phó Chủ tịch Hội nhà báo Việt Nam đưa ra một nhận định cho rằng vì 'dân trí thấp', nên Việt Nam chưa nên có luật 

'Trưng cầu dân ý'.

Đại biểu Hà Minh Huệ hôm 03/6 nói trước Quốc hội Việt Nam:

"Dân chủ của ta có hạn, dân trí còn rất thấp, số người dân trí cao là thiểu số, trưng cầu (dân ý) có khi gây hại, không thể tùy tiện."

Bình luận về quan điểm này, hôm Chủ nhật 07/6, nhà báo tự do Trần Tiến Đức, nguyên Vụ trưởng Ủy ban Dân số & Kế hoạch hóa Gia đình của Việt Nam, nguyên nhà báo thuộc ban Khoa giáo Đài truyền hình Việt Nam (VTV), đưa ra một so sánh với thời mà thân phụ của ông, Bác sỹ Trần Duy Hưng còn làm Thị trưởng Thành phố Hà Nội, hơn 60 năm về trước.

Ông Trần Tiến Đức nói:

Điều mà ông ấy nói dân chủ hạn chế thì đó là đúng. Thực chất ở Việt Nam chúng ta đều biết rằng dân chủ còn rất nhiều hạn chế. Nhưng mà gọi rằng dân trí thấp để mà hạn chế quyền dân chủ, thì (điều) đó tôi nghĩ rằng đó là một sự hồ đồ
Nhà báo tự do Trần Tiến Đức

"Lúc bấy giờ không ai dám nói, chê người dân là dốt nát đâu. Có (thể có) một số quan chức trong bụng người ta nghĩ thế, nhưng phát biểu công khai thì không ai dám miệt thị người dân, coi người dân là lạc hậu kém hiểu biết."

Khoảng cách

Nhà báo tự do nói thêm:

"Điều mà ông ấy nói dân chủ hạn chế thì đó là đúng.

"Thực chất ở Việt Nam chúng ta đều biết rằng dân chủ còn rất nhiều hạn chế.

"Nhưng mà gọi rằng dân trí thấp để mà hạn chế quyền dân chủ, thì (điều) đó tôi nghĩ rằng đó là một sự hồ đồ.

"Và ở bên này (Việt Nam), dư luận trong nhân dân, đặc biệt trong giới trí thức, đều nói rằng hiện này chính là có khoảng cách rất lớn giữa dân trí và quan trí.

"Dân trí đã phát triển rất nhiều, và có rất nhiều điều người ta (người dân) đã học hỏi được, đã tiếp thu được từ nền văn minh của thế giới và từ truyền thống của đất nước này," ông Trần Tiến Đức nói với BBC.

(BBC)

Giáo sư Mohan Malik cho rằng đây là thập kỷ của những chuyển giao quyền lực ở Châu Á, trong đó Trung Quốc đóng vai trò quan trọng quyết định cục diện ở khu vực.

Hội nghị Shangri-la gần đây ở Singapore đã chứng kiến những đối đáp có phần gay gắt giữa Trung Quốc và các bên tham dự khác. Việc Bắc Kinh triển khai giàn khoan cùng hơn 80 tàu bảo vệ ra Biển Đông, chỉ bốn ngày sau “chuyến thăm mang tính trấn an” của Tổng thống Mỹ Barack Obama tới các nước láng giềng Đông Á của Trung Quốc vào tháng 4 năm 2014, được xem là hành động khiêu khích có tính toán.

China_USTuy nhiên, động thái trên của Trung Quốc phản ánh đúng mô hình thúc đẩy yêu sách ở khu vực ngoại vi mà nước này đang áp dụng bằng hăm dọa, ép buộc, và đe dọa sử dụng vũ lực thông qua “các hoạt động bán quân sự chưa tới mức chiến tranh” (Paramilitary operations short of war – POSOW). Giàn khoan của Trung Quốc giống như một thông điệp chính trị thể hiện quyết tâm cũng như khả năng của nước này trong việc kiểm soát và khai thác Biển Đông đồng thời phủ nhận các bên yêu sách khác – và nó được gửi tới Washington cũng như Tokyo, Hà Nội, Manila, Jakarta, và New Delhi.

Cùng với việc thăm dò dầu khí ở vùng biển tranh chấp, giàn khoan trị giá 1 tỷ USD này cũng đã khoan một lỗ lớn vào “chiến lược xoay trục” của Washington bởi nó ảnh hưởng tới uy tín của Washington với vai trò điểm tựa an ninh của khu vực hay người bảo vệ an ninh. Về cơ bản, đây giống như một sự mỉa mai cam kết an ninh của Mỹ đối với khu vực trong bối cảnh Trung Quốc sử dụng chiến thuật cưỡng ép nhằm thay đổi hiện trạng. Bắc Kinh cho rằng các láng giềng nhỏ bé và nước Mỹ sẽ không sử dụng vũ lực để ngăn cản việc Trung Quốc nỗ lực biến Biển Đông thành “ao nhà” của mình. Trung Quốc hiện đang lặng lẽ, kiên nhẫn triển khai từng bước và cuối cùng tập hợp tất cả lại “khi điều kiện chín muồi.”

Nguyên nhân chủ yếu cho việc Trung Quốc hành xử quyết đoán trên biển là sự dịch chuyển mang tính kiến tạo trong môi trường chiến lược của Bắc Kinh, diễn ra sau khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991. Lần đầu tiên trong suốt chiều dài lịch sử, Trung Quốc không phải đối mặt với bất kỳ mối đe dọa nào ở biên giới phía bắc và chính diễn biến địa chính trị quan trọng này lý giải cho động thái bành trướng quân sự của Trung Quốc ở bờ biển phía đông và vùng biên giới phía tây nam. Chúng ta cần nhớ lại rằng các triều đại nối tiếp nhau của Trung Quốc đã xây dựng Vạn Lý Trường Thành để ngăn cản sự quấy nhiễu của người Mông Cổ và các bộ tộc Mãn Châu ở phía bắc khi các bộ tộc này thường tràn vào cướp bóc thời nhà Hán.

Năm 1433, trước những cuộc tấn công ngày càng táo bạo của quân Mông Cổ cùng mối đe dọa từ các bộ tộc ở Trung Á đối với vùng biên cương tây bắc, các vị vua triều Minh của Trung Quốc đã tạm dừng những chuyến đi biển tốn kém của Đô đốc Trịnh Hòa để tập trung nguồn lực bảo vệ vùng biên cương của Vương quốc Trung Nguyên. Từ thế kỷ 18 đến thế kỷ 20, một nước Nga Sa hoàng lớn mạnh và tiếp theo đó là Liên Xô luôn là mối quan tâm của các nhà hoạch định quân sự Trung Quốc. Ngoại trừ một khoảng thời gian ngắn vào những năm 1950 khi hai bên có quan hệ nồng ấm, còn lại Bắc Kinh luôn canh cánh hiểm họa từ phía bắc trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh cho tới khi Liên Xô sụp đổ vào năm 1991.

Bất chấp những quan ngại địa chính trị như Trung Quốc xâm lấm vùng Viễn Đông và khu vực Trung Á có thể rơi vào vùng ảnh hưởng của nước này, Tổng thống Nga Vladimir Putin – trước thực tế bị Châu Âu và Mỹ cô lập sau khi Nga sáp nhập Crimea và tình trạng bất ổn đang tiếp diễn ở miền đông Ukraine – đã chấp thuận những điều khoản không hề dễ chịu từ Trung Quốc khi ký kết một thỏa thuận lớn về đường ống dẫn khí đốt nhằm đa dạng hóa thị trường xuất khẩu năng lượng của Nga ngoài Châu Âu, và biến Trung Quốc trở thành đồng minh quan trọng của Nga. Trong một loạt vấn đề, Nga và Trung Quốc đang thách thức trật tự quốc tế thời kỳ hậu chiến tranh lạnh. Mặc dù Trung Quốc đã không ủng hộ Nga trong vấn đề Georgia hay Crimea, nhưng ông Putin tin rằng mối quan hệ giữa Moscow và Bắc Kinh đang ở giai đoạn nồng ấm nhất.

Nếu “liên minh Trung-Nga” được hồi sinh, thì có một sự đảo ngược hoàn toàn về vai trò các bên kể từ đầu thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc – chứ không phải một nước Nga suy yếu về kinh tế và nhân khẩu học – đóng vai trò chủ đạo trong liên minh này. Giống như trong quá khứ, những rắc rối gặp phải ở phía Tây một lần nữa buộc Nga đưa ra những nhượng bộ ở phía Đông. Kế hoạch của Bắc Kinh là khiến Nga phụ thuộc kinh tế vào nước này như phương Tây bị chinh phục bởi hàng hóa giá rẻ do Trung Quốc sản xuất. Ấn Độ cần phải tái điều chỉnh quan hệ với một nước Nga đang đóng vai trò thứ yếu so với Trung Quốc và đang cùng chung tay với Bắc Kinh cung cấp vũ khí cho Pakistan.

Không có gì ngạc nhiên khi các phương tiện truyền thông tràn ngập thông tin về một “liên minh chiến lược Trung – Nga mới có khả năng thống trị vùng trung tâm [của lục địa Á Âu],” báo hiệu “cơn ác mộng về tương quan lực lượng theo thuyết Mackinder đối với Washington.” Một số người liên tưởng việc hình thành trục Bắc Kinh-Moscow-Teheran dựa trên các yếu tố năng lượng, thương mại và an ninh trên toàn lục địa Á-Âu. Dù nguyên nhân Nga xoay trục sang Châu Á bắt nguồn từ sự bất ổn ở phía Tây khi nước này ở một vị thế yếu, nhưng người ta có thể thấy Washington ngày càng bị thách thức bởi các nước đang tìm cách thay đổi cán cân quyền lực trong khu vực.

Vì vậy, quan niệm cho rằng Châu Á bị mất cân bằng đang trở nên khá phổ biến. Một nước Mỹ mệt mỏi sau các cuộc chiến cùng sự eo hẹp về ngân sách rõ ràng đã thúc đẩy các cường quốc xét ​​lại như Trung Quốc và Nga hành động. Những nỗ lực của chính quyền Obama nhằm “tái cân bằng” vai trò của Mỹ ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương bị ảnh hưởng bởi nhận thức chung về sự bất đối xứng chiến lược cùng cán cân địa chính trị đang thay đổi nhanh chóng. Cuộc tranh giành quyền kiểm soát “các tài sản chung” (như biển, không gian mạng và không gian vũ trụ) ngày càng quyết liệt. Những quan ngại chiến lược xuất hiện ngày càng nhiều khi tham vọng, sức mạnh và ảnh hưởng đang lên của Trung Quốc đi ngược lại với lợi ích của các cường quốc hiện thời.

Biên tập viên Zackary Keck của tờ Diplomat và học giả Chen Dingding đã bắt đầu một cuộc tranh luận liệu Trung Quốc trở thành một bá chủ toàn cầu kiểu khác hay sẽ hành xử giống như Mỹ và các bá quyền trong quá khứ. Dĩ nhiên giới lãnh đạo Trung Quốc rất khó tránh tham vọng bá chủ hay cách hành xử của một siêu cường. Trái với những tuyên bố chính thức, Trung Quốc đang hành xử không khác gì các cường quốc trỗi dậy đã làm trong lịch sử: Thiết lập mốc giới mới, vẽ ra các biên giới mới trên đất liền, bầu trời, đại dương xung quanh khu vực ngoại vi, cố gắng mở rộng biên giới trên bộ và trên biển, hình thành và sửa đổi các thể chế đồng thời ép buộc các bên khác đi theo quỹ đạo của mình. Vẽ bản đồ có thể trở thành một ngành kinh doanh phát triển ở Trung Quốc. Cách hành xử quốc tế của Bắc Kinh (nghĩa là cách “thể hiện sức mạnh” của họ chắc hẳn sẽ không khác gì các siêu cường khác.

Do vậy, Châu Á-Thái Bình Dương hiện đứng trước ngưỡng của sự thay đổi – những điều đã biết và chưa biết; đầy rẫy các thách thức và bất ổn. Tôi cho rằng sẽ có 7 sự dịch chuyển chiến lược lớn quyết định hành vi chiến lược của Trung Quốc cũng như bối cảnh địa chính trị Châu Á trong nhiều năm cũng như nhiều thập kỷ tới.

Xung đột giữa Cường quốc Mới nổi và Cường quốc Hiện thời

Quyền lực trong hệ thống quốc tế mang tính tương đối và luôn luôn dịch chuyển. Trong ba thập kỷ qua, Trung Quốc đã chứng tỏ khả năng đáng kinh ngạc trong việc vạch kế hoạch và huy động nguồn lực quốc gia để thực hiện các chiến lược hành động với mục tiêu cụ thể trong các lĩnh vực như kinh tế, ngoại giao và quân sự. Tác động toàn cầu từ sự thành công của Trung Quốc sẽ là “khổng lồ kiểu Trung Quốc-Chigantic” (ghép hai từ “China” và “gigantic” của từ điển Oxford). Nếu Trung Quốc duy trì được đà tăng trưởng, tổng sản phẩm quốc nội của nước này (GDP), quân sự, và chi phí Nghiên cứu và Phát triển có thể cạnh tranh với các chỉ số tương tự của Mỹ, mặc dù không phải về chất lượng mà về số lượng. Trung Quốc đang nổi lên như một đối thủ ngang cơ mạnh hơn Liên Xô trước đây.

Không cường quốc trỗi dậy nào sẽ chấp nhận duy trì nguyên trạng. Về bản chất, các cường quốc có xu hướng bành trướng. Điều này thực sự có sức hút khó cưỡng. Năm 2009, một trong những cuốn sách bán chạy nhất ở Trung Quốc có nhan đề “Trung Quốc không hài lòng”. Người ta tự hỏi, Trung Quốc có thể nắm cả thế giới vậy tại sao họ lại không hài lòng.

Trong lịch sử, các cường quốc trỗi dậy thường có những nỗi lo sợ hoang tưởng và chứa đầy nghi kỵ: họ cho rằng các nước khác quyết tâm đánh bại và ngăn chặn họ trên con đường tiến tới quyền lực. Kỳ vọng quá nhiều và quá sớm, các cường quốc này thường phản ứng thái quá. Điều này đôi khi khiến họ sụp đổ. Chúng ta hãy nhớ lại trường hợp của Nhật Bản và Đức. Cường quốc đang lên cũng có xu hướng mạo hiểm, thiếu kiên nhẫn. Họ phô trương sức mạnh và thử thách quyết tâm của các cường quốc già cỗi. Cường quốc trỗi dậy khai thác điểm yếu trong quyết tâm – chứ không phải năng lực – của các cường quốc hiện thời bằng cách sử dụng chiến thuật bất đối xứng để dần loại bỏ vị thế bá chủ của những cường quốc này.

Sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, Trung Quốc đã chuyển chính sách từ “ẩn mình chờ thời” sang “nắm bắt cơ hội”, vươn lên dẫn đầu và phô trương sức mạnh nhằm định hình lựa chọn của các bên khác theo hướng có lợi cho mình.” Trật tự quốc tế sau chiến tranh phụ thuộc vào ba yếu tố: Các liên minh của Mỹ, vị thế thống trị trên biển không thể thách thức của Mỹ, và cán cân quyền lực tương đối ổn định. Tất cả những yếu tố trên đang bị thách thức bởi mục tiêu và sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc. Trung Quốc – nước hưởng lợi nhiều nhất từ trật tự thế giới sau chiến tranh – giờ đây nhận thấy sự thống trị của Mỹ không còn đem lại lợi ích cho nước này.

Một sĩ quan quân đội Trung Quốc đã nhận xét: “Sự hiện diện của Mỹ và các đồng minh sẽ kìm hãm tương lai phát triển cũng như mục tiêu trong khu vực của Trung Quốc.” Bắc Kinh coi các liên minh của Mỹ là “tàn dư của Chiến tranh Lạnh”, cần phải được loại bỏ để khôi phục cái mà nước này gọi là “sự cân bằng quyền lực tự nhiên trong khu vực“ (nghĩa là: một Trật tự Thứ bậc trong đó Trung Quốc chiếm vị trí trung tâm của Châu Á như trong thời cận đại). Chấp nhận đóng vai trò thứ yếu so với các cường quốc khác không nằm trong gen của người Trung Quốc. Moscow đã đúc kết điều này một cách đầy cay đắng trong những năm 1950. Và giờ đến lượt người Mỹ với giấc mơ ấp ủ kết nạp Trung Quốc làm thành viên đàn em. Nhiều người cho rằng các chế độ không chia sẻ quyền lực hay tuân thủ nguyên tắc pháp luật cai trị trong chính trị nội địa thì cũng sẽ không tuân thủ luật lệ trong chính trị quốc tế hoặc chia sẻ quyền lực ở chính trường thế giới.

Mục tiêu chiến lược Châu Á của Trung Quốc là làm xói mòn uy tín của Mỹ với vai trò người bảo đảm an ninh khu vực. Bất kể các tuyên bố ngoại giao của Bắc Kinh như thế nào, “Quan hệ Cường quốc Kiểu mới” thực chất hướng tới việc Mỹ công nhận quyền bá chủ của Trung Quốc ở Châu Á trong một thỏa thuận địa chính trị nhằm hạn chế vai trò và sự hiện diện của Washington tại khu vực, và gạt bỏ các đồng minh truyền thống của Mỹ (đặc biệt là Nhật Bản) ra bên lề. Sự thúc ép này sẽ tiếp tục trong nhiều thập kỷ tới bởi Trung Quốc coi Mỹ đang “tụt dốc không phanh và ngày càng suy yếu trong khi Bắc Kinh ngày càng mạnh hơn.”

Theo quan điểm của Bắc Kinh, vấn đề chính là làm sao để tận dụng và hưởng lợi từ việc Mỹ suy yếu. Về phía Washington, thách thức là làm thế nào quản lý sự trỗi dậy của Trung Quốc bên trong trật tự do Mỹ dẫn dắt mà không giảm bớt vai trò và sự hiện diện của nước này. Bên nào chiếm thế thượng phong trong cuộc đấu này sẽ quyết định tương lai trật tự thế giới. Chính vì điều này mà các quan chức chính quyền Obama đã tới thăm các nước Châu Á để trấn an bạn bè và đồng minh về những cam kết an ninh của Mỹ, đồng thời tái khẳng định quyết tâm của Washington trong việc tái cân bằng Châu Á.

Điều quan trọng là sự trỗi dậy của Trung Quốc cũng gặp phải những thách thức. Dưới sự lãnh đạo của ông Shinzo Abe, Nhật Bản đang trở thành một “quốc gia bình thường” với việc dỡ bỏ rào cản về tự vệ tập thể và chuyển giao vũ khí. Còn Ấn Độ đã tái cân bằng trên phương diện kinh tế và chiến lược đối với khu vực Châu Á-Thái Bình Dương trong gần hai thập kỷ thực hiện chính sách “Hướng Đông”. Với chiến thắng của đảng BJP dưới sự lãnh đạo của ông Narendra Modi trong cuộc bầu cử tháng 5 năm 2014, Ấn Độ có thể sẽ trở lại đầy mạnh mẽ. Do Bắc Kinh không từ bỏ chính sách vừa can dự kinh tế đối với Ấn Độ vừa tìm cách bóp nghẹt nước này về phương diện địa chính trị, một Ấn Độ hồi sinh sẽ trở thành người bảo vệ cán cân quyền lực Châu Á ở phía nam và chặn đứng nỗ lực thiết lập vị thế bá chủ của Trung Quốc.

Các nước nhỏ và tầm trung (như Singapore, Hàn Quốc, Indonesia, Việt Nam, Philippines, và Australia) cũng đang tích cực hành động vì mục tiêu cân bằng và giành lợi thế. Đặc biệt là Indonesia và Việt Nam đã cải thiện đang kể sức mạnh hải quân của mình trong bối cảnh tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông leo thang.

Về phần mình, nước Nga đang sử dụng nguồn năng lượng khổng lồ làm công cụ quay trở lại vũ đài chính trị thế giới. Dù cho cuộc khủng hoảng Ukraina đã giảm bớt sức nóng, chính sách xoay trục Châu Á của Nga vẫn sẽ được thúc đẩy do sự cô lập từ phương Tây với các lệnh trừng phạt; thỏa thuận cung cấp khí đốt thời hạn 30 năm của Gazprom cho Trung Quốc trị giá 400 tỷ USD; và nhu cầu ngày càng tăng từ các nước láng giềng của Bắc Kinh đối với các khí tài và nguồn năng lượng của Nga. Nhưng ít khả năng Nga sẽ trở thành một “Canada của Trung Quốc” mà không có bất kỳ phản kháng nào. Tất cả những điều này đã tạo nên một môi trường địa chính trị vô cùng rối rắm, phức tạp ở Châu Á.

Những cường quốc hiện nay ở Châu Á-Thái Bình Dương cũng giống như Đức, Pháp, Anh và Ý ở đầu thế kỷ 20. Họ vươn ra thế giới để tìm kiếm thị trường, nguồn tài nguyên và các căn cứ; cạnh tranh quyền lực và tầm ảnh hưởng; chèn ép và tranh giành ở các khu vực khác nhau trên thế giới, qua đó hình thành những quan hệ đối tác tự nhiên vốn là đặc trưng của chiến lược phòng ngừa.

Cuộc cạnh tranh quyền lực chủ yếu diễn ra giữa Mỹ và Trung Quốc, nhưng trên đại dương và đất liền thì là cuộc cạnh tranh giữa Trung Quốc và Nhật Bản; giữa Trung Quốc và Ấn Độ. Hải quân Ấn Độ và Trung Quốc đang hiện diện ở Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương với tần suất ngày càng nhiều hơn. Logic của địa chính trị – đó là Nhật Bản và Ấn Độ quan ngại về vị thế của mình ở một Châu Á mà Trung Quốc ở vị trí trung tâm – sẽ gắn kết hơn nữa mối quan hệ Nhật-Ấn dưới sự lãnh đạo của ông Abe và ông Modi. Điều này làm tăng thêm những cạnh tranh chiến lược giữa Bắc Kinh với Tokyo và New Delhi.

Giống Châu Âu vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, Châu Á-Thái Bình Dương đầu thế kỷ 21 xuất hiện một số cường quốc trỗi dậy, đầy tính ganh đua bên cạnh một số quốc gia suy yếu hoặc dễ bị tổn thương. Các cường quốc trỗi dậy này hình thành cán cân chiến lược mới do quan hệ đối tác và liên minh giữa các quốc gia thay đổi. Châu Á-Thái Bình Dương đầu thế kỷ 21 có nhiều điểm tương đồng với Châu Âu cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, chứ không phải Châu Âu với các cường quốc già cỗi, đang suy yếu của thế kỷ 21. Động thái của Nga đối với Ukraina có thể khiến các cường quốc Châu Âu không hài lòng nhưng các nước châu Âu không đưa ra phản ứng chiến lược quan trọng chống lại Moscow. Điều này chắc chắn không xảy ra ở Châu Á. Lần đầu tiên trong lịch sử hiện đại, Châu Á đang chi tiêu cho quốc phòng nhiều hơn Châu Âu. Sự nổi lên của các nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc ở Nhật Bản, Philippines và Ấn Độ một phần bởi thất bại rõ ràng từ những người tiền nhiệm của họ trong việc đối phó với sự xâm lấn của người Trung Quốc.

Mối quan ngại về Địa Chính trị

Đây là thập kỷ của chuyển giao quyền lực ở Châu Á. Đối với các nước láng giềng nhỏ bé của Trung Quốc, đây là một thập kỷ đầy nguy hiểm. Với các nước trong khu vực, Trung Quốc gợi lên một cảm giác bất an vì sự rộng lớn, mức độ liền kề, lịch sử cũng như sức mạnh của nước này, và quan trọng hơn, chính bởi ký ức về “hội chứng Vương quốc Trung Nguyên” hoặc hệ thống các nước chư hầu vẫn chưa phai mờ. Trong lịch sử, Trung Quốc chưa từng chấp nhận chung sống bình đẳng với cường quốc khác có sức mạnh tương đương hoặc yếu hơn.

Trong quá khứ, một Trung Quốc thịnh vượng và hùng mạnh đòi hỏi các nước khác phải quy thuận và kính nể. Điều đã thay đổi đó là tham vọng về ý thức hệ trong quá khứ hiện được thế chỗ bởi các lợi ích kinh tế. Hầu như không có nước Châu Á nào tin vào luận điệu “Trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc” (hãy thử hỏi Mông Cổ, Nhật Bản, Việt Nam, Philippines hay Ấn Độ) hoặc tuyên bố “Không can thiệp vào công việc nội bộ” (hãy thử hỏi Bắc Triều Tiên, Campuchia, Lào, Malaysia, Indonesia, Myanmar, Nepal hay Sri Lanka).

Sự gắn kết trong quan hệ kinh tế giữa Trung Quốc và các nước láng giềng Châu Á tạo cảm giác về một sự lệ thuộc cùng tâm trạng thất vọng. Trong khi các quốc gia này không phản đối sức mạnh cũng như sự thịnh vượng của Trung Quốc, thì họ cũng không sẵn lòng để mất quyền tự quyết trong việc hoạch định chính sách. Ngoại trừ một số ít (nhất là Pakistan), còn lại hầu hết các nước Châu Á (gồm cả Bắc Triều Tiên) không hề mặn mà với việc chung sống trong một Châu Á do Trung Quốc dẫn dắt hoặc chi phối.

Thay vào đó, những nước này duy trì các liên kết an ninh hiện có, thực hiện chính sách ngoại giao khôn khéo cùng chiến thuật phòng ngừa giúp họ tự chủ hành động. Bởi Trung Quốc có vai trò trung tâm trong bối cảnh địa chính trị Châu Á, “phòng ngừa” hoặc “cân bằng” kiểu cũ đang trở thành lựa chọn ưa thích nhất của các bên trong khi vẫn duy trì các lợi ích từ việc quan hệ với Bắc Kinh. Các cường quốc hiện đang tìm cách tái cân bằng vị thế và chiến lược của mình. Chính sách “tái cân bằng” của Mỹ, Chính sách “Hướng Đông” của Ấn Độ, Chính sách “Hướng Tây” của ASEAN, Chính sách “Hướng Bắc” của Úc và hợp tác quốc phòng giữa Nhật Bản với Úc, Philippines, Việt Nam và Ấn Độ cho thấy xu hướng này.

Toàn vẹn lãnh thổ là lợi ích cốt yếu của tất cả các quốc gia: Dù yếu hay mạnh, lớn hay nhỏ. Căng thẳng leo thang giữa Trung Quốc và các nước láng giềng từ Ấn Độ đến Nhật Bản trong các tranh chấp trên lục địa và đại dương đều có ý nghĩa địa chính trị. Các tranh chấp lãnh thổ chưa được giải quyết cùng “hội chứng Vương quốc Trung Nguyên” dường như bất lợi cho Bắc Kinh và có lợi cho Washington. Đề cập về căng thẳng trong tranh chấp lãnh thổ tại cuộc gặp tháng 4 năm 2014, Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc, Tướng Thường Vạn Toàn đã nói với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel rằng Bắc Kinh sẽ “không thỏa hiệp, không nhân nhượng, [và] không đánh đổi” trong cuộc chiến bảo vệ cái ông Thường gọi là “chủ quyền lãnh thổ.” Ông Thường cảnh báo rằng: “Quân đội Trung Quốc sẽ nhanh chóng tập hợp, sẵn sàng chiến đấu và giành chiến thắng.”

Người Trung Quốc có lẽ đang kinh ngạc bởi các nước láng giềng nhỏ bé đã thể hiện quan điểm cứng rắn, đầy thách thức. Bắc Kinh hy vọng các nước láng giềng tôn trọng lợi ích cốt lõi của mình bằng cách đặt nó lên trên trên lợi ích quốc gia của chính các nước này – một kiểu quan hệ chư hầu mà các nước công nhận Trung Quốc là bá chủ của Châu Á. Trong bối cảnh đó, sự hỗ trợ về quân sự của Mỹ được xem là chốt chặn lớn nhất ngăn cản Trung Quốc ép buộc Châu Á chấp nhận và quy thuận quyền lực của nước này.

Từ năm 2007, cách hành xử quyết đoán của Trung Quốc trong các tranh chấp trên biển, đất liền ở khu vực ngoại vi của nước này đã đẩy các nước láng giềng xích lại gần hơn với Washington. Vì vậy, tôi cho rằng giống như mọi sản phẩm khác thời nay, chính sách “xoay trục” hay “tái cân bằng” của Washington cũng là “Made-in-China”. Các tranh chấp chưa được giải quyết của Trung Quốc với các nước láng giềng đang tạo ra những liên kết chưa từng có trước đây. Ví dụ như liên minh Canberra-Tokyo, Manila-Hà Nội, Manila-Tokyo, Tokyo-Hà Nội, Hà Nội-New Delhi, và Tokyo-New Delhi. Mục tiêu chung của các liên kết này là tạo đối trọng với Trung Quốc, chứ không phải Nga hay Mỹ. Trên thực tế, các bên tham gia trò chơi cân bằng này với Trung Quốc (như Ấn Độ, Việt Nam, Philippines, và Indonesia) đang được Nga và Mỹ trang bị vũ khí.

Trong lịch sử, sự nổi lên của một cường quốc lục địa dẫn đến việc hình thành liên minh các cường quốc biển để cân bằng lại. Điều này đặc biệt đúng khi cường quốc lục địa đó có một thể chế chuyên quyền nuôi dưỡng nhưng nỗi oán hận lịch sử bằng các tranh chấp lãnh thổ, hoặc là một cường quốc có tính phân cực. Trung Quốc cũng không nằm ngoài quy luật này. Phần lớn các nước ở khu vực ngoại vi của Trung Quốc coi Mỹ, một siêu cường ở bên ngoài, là đối trọng thực sự của Bắc Kinh. Các nước đều muốn hưởng lợi từ quan hệ kinh tế với Trung Quốc, nhưng không bên nào muốn Trung Quốc thống trị khu vực hay các lựa chọn chính sách của họ bị nước này chi phối. Nói một cách đơn giản, không bên nào muốn Trung Quốc thay thế ngôi vị bá chủ đang bị suy yếu của Mỹ.

Mặc dù Bắc Kinh muốn khôi phục lại vị thế thống trị ở Châu Á thời kỳ cận đại, nhưng hoạt động mở rộng lãnh thổ của nước này và những thay đổi cấu trúc bên trong môi trường địa chính trị Châu Á hơn 300 năm qua không cho phép hồi sinh hệ thống các nước chư hầu với Trung Quốc ở vị trí trung tâm. Địa lý là yếu tố quyết định vai trò và sức mạnh của một quốc gia, một yếu tố không thể nào thay đổi. Lý do quan trọng khiến Mỹ trở thành siêu cường toàn cầu đó là nhờ vào vị trí địa lý độc nhất của nước này. Các nước láng giềng của Trung Quốc không phải Canada hay Mexico, mà là các cường quốc – như Nga, Nhật Bản, Việt Nam, Indonesia, Úc và Ấn Độ – những nước sẽ làm tất cả để chống lại sức mạnh của Trung Quốc bởi nguyên nhân về lịch sử, nền văn minh, địa chính trị và địa kinh tế. Sự cách biệt giữa tham vọng ở Châu Á của Trung Quốc và bối cảnh địa chính trị đang thay đổi đã ngăn cản nước này khôi phục vị thế thống trị trong quá khứ, điều này đã khiến cho người Trung Quốc cảm thán gọi là “sự bao vây Trung Quốc.”

Khách quan mà nói, đây đúng hơn là “sự quan ngại địa chính trị” chứ không phải “sự bao vây”. Sự bao vây, trong khái niệm đa chiều kinh điển của George Kennan (về kinh tế, ngoại giao, quân sự và chính trị), chủ yếu phản tác dụng trong nền kinh tế toàn cầu hóa. Quản lý sự trỗi dậy của Trung Quốc và tác động đến cách hành xử của nước này là thách thức ngoại giao lớn nhất đặt ra cho khu vực và thế giới trong những năm tới.

Cuộc Cạnh tranh Mới mà Cũ

Sự phát triển kinh tế sẽ tạo ra những lợi ích ngoài nước, thúc đẩy những tham vọng lớn về địa chính trị, và gần như chắc chắn sẽ dẫn đến việc tăng cường quân sự. Các bên sẽ tìm kiếm nguồn tài nguyên phục vụ mục tiêu tăng trưởng công nghiệp; thị trường mới để tiêu thụ hàng hóa; và các căn cứ để bảo vệ tài nguyên và thị trường giống như cách thức các cường quốc công nghiệp của Châu Âu tiến hành thuộc địa hóa Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La tinh vào thế kỷ 18 và 19 trước đây.

Ba yếu tố tài nguyên, thị trường và căn cứ bảo vệ thường đi cùng với nhau. Trao đổi thương mại, các thị trường, khai thác tài nguyên, hải cảng và phát triển cơ sở hạ tầng là những thành phần quan trọng trong chính sách đối ngoại hiện nay của Trung Quốc. Trung Quốc đang xoay trục về phía Tây (Châu Phi, Trung Đông, Nga, Tây Nam Á và Trung Á) tìm kiếm nguồn tài nguyên, thị trường, và môi trường ngoại giao. Giống như trong quá khứ, cuộc cạnh tranh “mới” về cơ bản là cuộc tìm kiếm các thể chế ôn hòa và thân cận làm nguồn cung tài nguyên và quyền tiếp cận các hải cảng. Trò chơi chính trị thế giới không thay đổi nhiều, chỉ có người chơi là thay đổi.

Thống trị Thế giới là Câu chuyện của Quá khứ

Không một cường quốc đơn lẻ nào có thể thống trị thế giới trong tương lai, bất kể nước này sở hữu bao nhiêu sức mạnh cứng và mềm. Kể cả liên minh G-2 cũng vậy. Mạnh cỡ nào thực sự không quan trọng bằng việc bạn sở hữu sức mạnh kiểu gì. Trung Quốc dường như tin rằng nếu nước này đạt được “sức mạnh tổng thể quốc gia” mọi thứ sẽ đi vào trật tự và các nước sẽ đi theo quỹ đạo của mình. Tuy nhiên, việc chỉ có “sức mạnh tổng thể quốc gia” sẽ không giúp Trung Quốc trở thành một siêu cường toàn cầu. Cường quốc trở thành siêu cường phải có sự ủng hộ của các nước vừa và nhỏ. Với số lượng đồng minh là 58 nước và đối tác tiềm năng là 41 nước trên toàn thế giới, Mỹ vẫn là một siêu cường không có đối thủ. Sự ủng hộ của các cường quốc vừa và nhỏ, hoặc không có điều này, sẽ là sự khác biệt lớn quyết định thành công hay thất bại của việc trở thành siêu cường. Bạn không thể trở thành một nhà lãnh đạo nếu không có những người ủng hộ.

Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, Trung Quốc và Ai Cập là hai quốc gia bậc trung kiểu “gió chiều nào xoay chiều ấy.” Khi Trung Quốc và Ai Cập chuyển từ ủng hộ Liên Xô sang ủng hộ Mỹ, hai nước này đã trở thành những nhân tố quan trọng trong cán cân quyền lực ở Châu Á và Trung Đông. Cán cân lực lượng đã thay đổi không có lợi cho Liên Xô và phần còn lại là lịch sử. Tái hiện nước cờ địa chính trị này, Washington đang tìm cách lôi kéo các “quốc gia đảo cánh” mới như Ấn Độ, Indonesia để tạo thế đối trọng với Trung Quốc.

Luận điểm của Mackinder hay Mahan đều giá trị như nhau

Trọng tâm địa chính trị Châu Á đang dịch chuyển vào lục địa đã tác động đến các cường quốc biển. Luận điểm của Mahan hay của Mackinder, Spykman, Kautilya và Sun Zi đều quan trọng. Mặc dù tập trung vào cạnh tranh trên biển, nhưng các trung tâm kinh tế, các thể chế mới, hành lang giao thông, đường sắt cao tốc, đường cao tốc và hệ thống các đường ống đang thay đổi môi trường địa chính trị của lục địa Á-Âu. Trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh, phần lớn sự tăng trưởng kinh tế diễn ra bên trong hệ thống liên minh “trục và nan hoa” của Mỹ ở các vùng biển Châu Á. Thời kỳ Hậu Chiến tranh Lạnh, tăng trưởng kinh tế đã diễn ra ở Trung Quốc, Ấn Độ và lục địa Đông Nam Á, bên ngoài mạng lưới liên minh Mỹ-Thái Bình Dương.

Trung Quốc, giống nước Anh và nước Nga trong quá khứ, hiện đang sử dụng phương tiện giao thông hiện đại, đường sắt cao tốc, đường cao tốc, mạng lưới đường ống để vẽ lại bản đồ địa chính trị của lục địa Á-Âu. Là một phần trong chiến lược “Hướng Tây”, Bắc Kinh đã đầu tư hàng trăm tỷ để tạo “hệ thống trục và nan hoa kinh tế” ở lục địa Châu Á bằng các đường ống, đường cao tốc, mạng lưới đường sắt liên kết Trung Quốc với các khu vực Trung Á, Tây Nam Á và Đông Nam Á. Các nan hoa hoặc hành lang huyết mạch này sẽ vận chuyển nguyên liệu thô và nguồn năng lượng, đồng thời xuất khẩu các hàng hóa của Trung Quốc tới những khu vực trên và xa hơn nữa. Tuy nhiên, lục địa Á-Âu chưa được quan tâm thích đáng bởi ba thế kỷ thống trị đại dương của người Mỹ gốc Anh dường như khiến các nhà hoạch định chính sách mắc hội chứng “mù đất liền”.

Công nghệ: Một Đòn bẩy Thực sự

Công nghệ chính là nhân tố thay đổi cuộc chơi. Trong thời chiến hay thời bình, công nghệ định hình mối quan hệ giữa các quốc gia. Công nghệ quyết định thứ bậc trong quan hệ quốc tế. Rất ít nhà kinh tế dự đoán Trung Quốc sẽ trở thành một cường quốc kinh tế. Tại sao lại như vậy? Bởi họ đã không thể thấy trước được tác động của công nghệ trong tương lai. Cũng như không ai vào năm 1990 có thể đoán biết cách thức Internet sẽ thay đổi mọi thứ, sự phổ biến nhanh chóng của những công nghệ đột phá như in ấn 3D/4D, thành tựu của công nghệ sinh học, người máy, và điện toán lượng tử là những nhân tố quyết định cuộc chơi. Một cuộc cách mạng trong sản xuất dựa trên công nghệ in ấn 3D/4D có ý nghĩa gì nếu được sản xuất -tại-Trung Quốc? Những đột phá công nghệ trong tương lai chắc chắn sẽ tạo ra người chiến thắng và kẻ chiến bại mới, đồng thời cũng đem lại các cơ hội và thách thức mới.

Địa chính trị và địa chất học có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Khi Trung Quốc và các nước khác cho rằng Mỹ đang suy yếu, thì nước này thấy mình ở đỉnh đạt với khả năng tự cung cấp năng lượng, nhờ thành tựu đột phá trong “công nghệ phân tách bằng thủy lực” (fracking technology). Cuộc cách mạng về khai thác đá phiến có thể giúp Mỹ hồi sinh và kéo dài sự thống trị đối với trật tự quốc tế. Sự bùng nổ năng lượng tại Mỹ và Canada – nếu tận dụng triệt để – có khả năng thay đổi động lực sức mạnh giữa các cường quốc và vực dậy những liên minh của Mỹ. Điều này có thể khiến người chiến thắng hôm qua trở thành kẻ thua cuộc ngày mai. Giống như một Trung Đông “già cỗi” đang “hướng Đông” để thúc đẩy quan hệ năng lượng với Trung Quốc và Ấn Độ, một “Trung Đông mới” (bao gồm Canada và Mỹ) có thể đang “hướng Tây” để bán dầu – khí trong đá rắn cho Nhật Bản, Ấn Độ, Hàn Quốc, và các nước Đông Nam Á. Dầu – khí trong đá phiến sẽ không chỉ tăng cường đòn bẩy ngoại giao của Mỹ, mà còn làm thị trường dầu mỏ thế giới đa dạng, giúp bình ổn giá dầu, đồng thời các nước tiêu thụ sẽ giảm bớt sự phụ thuộc quá mức vào một Trung Đông biến động, các cacten OPEC, và nước Nga của ông Putin.

Tương lai Địa chính trị Châu Á

Những xu hướng chiến lược này sẽ định hình tương lai địa chính trị Châu Á, đặc biệt là tác động qua lại giữa Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản và Ấn Độ. Sự bất cân bằng sức mạnh giữa các cường quốc dẫn đến việc mỗi bên sẽ thiết lập các liên kết linh hoạt, tạm thời với những bên khác khi lợi ích của họ có điểm đồng; tận dụng sự ủng hộ của một bên để chống lại bên khác khi có xung đột quyền lợi; ngăn chặn hai bên khác hình thành liên minh chống lại mình bởi các nước có xu hướng cạnh tranh, liên minh và liên kết lại khi mục tiêu song trùng.

Dĩ nhiên, Trung Quốc là mảnh ghép quan trọng nhất trong bức tranh địa chính trị này. Không quốc gia nào có thể đe dọa Trung Quốc khi nước này hiện nay đã lớn mạnh. Là quốc gia lớn nhất (về mặt lãnh thổ) và hùng mạnh nhất (về mặt kinh tế và quân sự) ở Châu Á, chỉ khi Bắc Kinh dừng lại và chấp nhận duy trì nguyên trạng lãnh thổ trên bộ và cũng như trên biển thì nước này mới có thể hóa giải được các liên minh của Mỹ thời kỳ Chiến tranh Lạnh và giảm bớt lý do nước này hiện diện tại khu vực. Nhưng chúng ta không nên tin vào khả năng này: Một chiến lược gia Trung Quốc (cơ bản nhắc lại lời Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc) từng nói: “Từ bỏ yêu sách đối với ‘các vùng đất bị mất vào tay nước khác’…là điều khó tin và không thể xảy ra.”

Do quân đội nhân dân Trung Quốc sẽ không chấp nhận duy trì nguyên trạng lãnh thổ hiện nay, câu hỏi đặt ra cho Mỹ và các đồng minh là cách thức duy trì cán cân quyền lực đủ mạnh nhằm ngăn chặn bất kỳ hành động hăm dọa và xâm lấn, đồng thời trấn an bạn bè và đồng minh đang phải đối mặt với một Trung Quốc đầy tự tin với quyết tâm thiết lập vị thế thống trị trên lục địa Châu Á và các vùng biển liền kề. Hòa bình và ổn định sẽ được duy trì nếu các cường quốc hướng tới xây dựng một Châu Á đa cực với các tổ chức đa phương toàn diện cùng các cơ chế giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, sự ganh đua, cạnh tranh và thậm chí là xung đột có thể dẫn đến trật tự lưỡng cực hoặc việc Bắc Kinh tìm cách thiết lập lại trật tự đơn cực mà nước này ở vị trí trung tâm, theo đó Trung Quốc sẽ hành xử như một bá quyền và đòi hỏi sự quy thuận, triều cống từ các nước láng giềng.

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng, không điều gì là chắc chắn trong cuộc sống cũng như vũ đài chính trị – trong nước hay quốc tế. Tương lai không phải là một đường thẳng. Nó đầy rẫy những bước ngoặt, vấp ngã, thất bại, điều bất ngờ và sự trái ngược, không liên tục và phi tuyến tính. Liên Xô và Nhật Bản chính là những ví dụ cho thấy việc Trung Quốc trỗi dậy không có gì là chắc chắn.

Trong lịch sử, các cường quốc trỗi dậy, kỳ vọng quá nhiều quá sớm, thường bộc lộ sức mạnh một cách khác thường, và đây là kẻ thù nguy hiểm nhất của chính những nước này. Khác những gì sách giáo khoa Quan hệ Quốc tế dạy chúng ta, chính sách đối ngoại của một quốc gia không chỉ là những tính toán về sự được mất hoặc câu chuyện thiệt hơn. Đó là tổng hòa của năm yếu tố: Khát vọng, sức mạnh, lợi ích, kiêu hãnh và định kiến. Điều này khiến việc dự đoán tương lai của Trung Quốc hay tương lai chính trị thế giới trở nên hết sức khó khăn.

Nguy cơ của những tính toán sai lầm nằm ở chỗ: Quân đội Trung Quốc đánh giá quá cao sức mạnh của mình, trong khi phần còn lại của thế giới đánh giá quá thấp tham vọng, sức mạnh cũng như mục đích của Bắc Kinh.

Tác giả: Mohan Malik | Biên dịch: Viết Tuấn | Hiệu đính: Kim Minh 

Mohan Malik là Giáo sư chuyên về An ninh Châu Á tại Trung tâm Nghiên cứu An ninh Châu Á-Thái Bình Dương ở Honolulu. Ông là chủ biên của cuốn An ninh Biển ở Ấn Độ-Thái Bình Dương (Rowman & Littlefield, sẽ xuất bản tháng 10 năm 2014) và tác giả cuốn sách Trung Quốc và Ấn Độ: Cuộc đối đầu của Hai Cường quốc (Nhà xuất bản Lynne Rienner, 2011). Bài viết đăng trên trang “The Diplomat“.

(Nghiên Cứu Quốc Tế)


Bức biếm họa về quan hệ Việt - Mỹ trên trang web của Hoàn cầu Thời báo.
                   Bức biếm họa về quan hệ Việt - Mỹ trên trang web của Hoàn cầu Thời báo.

Truyền thông của hai quốc gia cộng sản mới đây đã dùng những ngôn từ không hề kiêng nể để nhắm vào nhau, gây ra một cuộc đối đầu trên 'mặt trận báo chí' nhà nước của hai quốc gia láng giềng.

Trong một bài bình luận đăng ngày 2/6 về chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter, tờ Hoàn cầu Thời báo thuộc cơ quan Ngôn luận của Đảng Cộng sản Trung Quốc viết rằng “người Việt Nam thừa biết là Washington đang lợi dụng Hà Nội để khống chế Trung Quốc tại biển Đông”.

“Người Mỹ không hâm mộ thể chế chính trị của Việt Nam. Điều gì sẽ xảy ra sau khi nước này tự ngả vào vòng tay của Mỹ? Câu trả lời không thể rõ ràng hơn”.

Bài viết của tờ báo thuộc Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc viết thêm rằng “Hà Nội luôn luôn cảnh giác trước Washington, và điều đó không dễ thay đổi vì những lời đường mật của ông Carter, và ngược lại. Hoa Kỳ sẽ không tin Việt Nam sẽ trung thành với mình”.

Đáp lại, tờ Giáo dục Việt Nam nói rằng “bài xã luận sặc mùi cay cú” của Hoàn cầu Thời báo “xuyên tạc quan hệ hợp tác quốc phòng Việt - Mỹ, Việt – Trung”.

Tờ báo thuộc Hiệp hội các Trường đại học, cao đẳng Việt Nam viết tiếp: “Đúng là Hoa Kỳ không ngây thơ, và người Việt Nam cũng không ngây thơ. Người Việt Nam không quên quá khứ, nhưng quá khứ ấy không chỉ có 2 cuộc chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ, mà còn cả ngàn năm Bắc thuộc, gần nhất cũng là những cuộc chiến như năm 1979 Trung Quốc xua quân xâm lược tàn sát hàng ngàn đồng bào mình và xâm lược, thôn tính Hoàng Sa năm 1974, 6 bãi đá Trường Sa năm 1988”.

'Xóa sạch quá khứ'

“Còn Trung Quốc thì sao? Bề ngoài Bắc Kinh luôn miệng muốn "gác lại quá khứ, hướng tới tương lai" nhưng thực bụng lại chỉ muốn láng giềng xóa sạch quá khứ bị phương Bắc xâm lược để tiếp tục bành trướng, "xâm lược mềm" lãnh thổ trong hiện tại và tương lai,” tờ báo viết thêm.

Báo chí Việt Nam nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước, nên các nhà quan sát cho rằng phản ứng của tờ Giáo dục Việt Nam nhiều khả năng đã được “bật đèn xanh”.

Trên bình diện ngoại giao, Việt Nam và Trung Quốc thời gian qua cũng đã có lời qua tiếng lại về vấn đề chủ quyền lãnh thổ.

Đích thân các lãnh đạo cấp cao của Việt Nam đã nồng hậu đón tiếp ông Carter. Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã “khẳng định chủ trương nhất quán của Việt Nam coi trọng thúc đẩy quan hệ với Hoa Kỳ, vì lợi ích lâu dài của nhân dân hai nước”.

Trong khi đó, Chủ tịch Trương Tấn Sang thì nói rằng “hai bên đã khép lại quá khứ và hướng tới tương lai thể hiện bằng việc thiết lập quan hệ đối tác toàn diện, đặc biệt quan trọng là trao đổi cấp cao diễn ra thường xuyên hơn”.

(VOA)

Cuốn bạch thư của Bắc Kinh - Beijing's white paper

Mới đây, Bắc Kinh đã lần đầu tiên trình làng chiến lược quân sự của họ qua bạch thư đầu tiên về quốc phòng. Như tạp chí Foreign Policy nhận xét, sách lược này hứa sẽ trả đũa cực kỳ mạnh nếu bị tấn công trong một thế giới mà họ nhìn đâu cũng thấy đe dọa.

Cuốn bạch thư, được Quốc Vụ Viện (tức chính phủ Trung Quốc) chính thức phổ biến, càng đáng chú ý vì nó được đưa ra trong một giai đoạn ngày càng gia tăng căng thẳng với Hoa Kỳ qua những hành động vô cùng gây hấn của Bắc Kinh trong vùng biển tranh chấp ở nơi mà thế giới gọi là Biển Nam Trung Hoa, và Việt Nam chúng ta gọi là Biển Ðông.

Cuốn bạch thư cũng được đưa ra khi mới hôm Thứ Hai, tờ báo lá cải của Nhân Dân Nhật Báo, Hoàn Cầu Thời Báo đã lớn tiếng khuyến cáo là chiến tranh với Hoa Kỳ là chuyện “không tránh được” nếu Hoa Kỳ cứ tiếp tục gây áp lực với Bắc Kinh về những hành vi mà thực sự là bất hợp pháp của họ. Có điều, cũng phải thêm là ở Hoa Kỳ, theo Foreign Policy, sự đồng thuận về phải để chỗ cho Trung Quốc thăng tiếng nay có vẻ đã được thay thế bằng một lập trường diều hâu hơn về nhu cầu phải phong tỏa một tên khổng lồ mới nổi lên ở Á Châu.

Nhưng Foreign Policy khẳng định là cuốn bạch thư mới này của Trung Quốc thực sự có nhiều tiếp nối với các sách lược trong quá khứ, đặc biệt là chủ thuyết của ông Mao Trạch Ðông về “tích cực phòng vệ,” mà tờ báo đùa bảo được biết ở Hoa Kỳ dưới cái tên là trường phái Billy Martin về giải quyết tranh chấp. Billy Martin, xin thêm, là một ông bầu của đội banh baseball New York Yankees một thời và ông nổi tiếng là ưa gây sự với trọng tài, ăn hiếp cầu thủ và ông đã từng nổi tiếng với câu nói bất hủ, “Tôi không bao giờ đấm quả đầu tiên, tôi đấm bốn quả thứ nhì.”

Nghiêm chỉnh mà nói cuốn bạch thư về quốc phòng này đã là một sự mới lạ. Nó chính thức hóa một sự biến dạng của Trung Quốc trở thành một cường quốc đại dương, với đặc biệt nhấn mạng đến các chiến dịch tấn công chứ không phải phòng thủ. Hơn thế nói đưa ra một viễn ảnh cho một vai trò rộng lớn hơn và toàn cầu hơn cho Giải Phóng Quân mà vốn từ trước đến nay vẫn được coi như là một lực lượng phòng vệ. Có nhiều nơi trong cuốn bạch thư này, lập trường diều hâu lộ rõ, phản ảnh tư tưởng của những người như Giáo Sư Liu Ming Fu, một giáo sư của Học Viện Quốc Phòng, mà trong cuốn Giấc Mơ Trung Quốc nói đến việc Bắc Kinh cần xây dựng một quân đội mạnh nhất thế giới để nhanh chóng thay thế Hoa Kỳ trở thành “nhà vô địch” thế giới. Ông Liu là người đã từng viết về liên hệ Mỹ Trung “Ðây là cuộc tranh giành để trở thành quốc gia dẫn đầu, là cuộc xung đột để chi phối thế giới.”

Ðiều đáng ngạc nhiên là cuốn bạch thư tuy vậy mở dầu với một phác họa về một khung cảnh thế giới khá tốt đẹp. Ấn bản tiếng Anh mở đầu viết, “Hòa bình, phát triển, hợp tác và lưỡng lợi đã trở thành một trào lưu không thể chống lại được của thời đại. Trong tương lai gần, một trận thế chiến khó xảy ra, và tình hình thế giới được chờ đợi sẽ hòa bình nói chung.”

Nhưng nhìn từ phía các nhà lãnh đạo Trung Quốc thì mọi sự không phải đều tốt đẹp. Những đe dọa cổ truyền cho an ninh nay lại còn bị kết hợp với những đe dọa mới, từ khủng bố đến chiến tranh tin tặc, khiến cho có tiềm năng có nhiều nguy hiểm. Một quốc gia đối thủ, không nêu tên, với khuynh hướng đòi giữ vị trí lãnh đạo và ủng hộ các đồng minh hiệp ước ở cùng Á Châu-Thái Bình Dương, cần đặc biệt chú ý. Tình hình đó được diễn tả theo công thứ như sau “Tuy nhiên, có những đe dọa mới từ chủ nghĩa bá quyền, chính trị quyền lực và chính sách can thiệp mới.”

Và chính vì thế mà bạch thư đưa ra kết luận, “Trong hoàn cảnh mới, các vấn đề an ninh quốc gia mà Trung Quốc đối diện bao gồm nhiều chủ đề hơn, nới rộng trên nhiều khu vực lớn hơn, và trải qua một giai đoạn thời gian dài hơn bao giờ hết trong lịch sự đất nước.” Hay như trong một đoạn khác, “Vì hoàn cảnh địa lý chiến lược phức tạp, Trung Quốc đối diện với nhiều đe dọa và thách thức trong mọi hướng chiến thuật và mọi lãnh vực an ninh.”

Mà điều này đặc biệt đúng cho tình hình ở Biển Ðông.

Tuy bạch thư hầu hết tập trung vào những vấn đề tối thượng như làm sao quân đội Trung Quốc có thể hỗ trợ cho việc thực hiện sử “hồi xuân” quốc gia của Trung Quốc, nó cũng đặc biệt chú tâm đến một khu vực có tiềm năng chiến tranh đang thường được báo chí nhắc nhở tới, vấn đề Trung Quốc lấn biển xây dựng nhưng đảo mới trên các bãi đá ngầm hay vài hòn nổi trong quần đảo Trường Sa.

Cuốn bạch thư viết, “Về những vấn đề liên quan đến chủ quyền lãnh thổ và quyền lợi lãnh hải, một số các nước láng giềng hải ngoại đã có những hành động khiêu khích và tăng cường sự hiện diện quân sự ở những bãi cạn và đảo của Trung Quốc mà họ đã chiếm đóng bất hợp pháp. Một số quốc gia ngoại quốc cũng bận rộn can thiệp vào các vụ việc ở Biển Nam Trung Hoa; một số rất nhỏ còn duy trì tuần thám gần cận từ trên không và trên biển và thám báo chống lại Trung Quốc. Do đó một công tác lâu dài cho Trung Quốc để bảo vệ các quyền lợi hải dương của mình.”

Bạch thư nói rõ là điều quan trọng ở vùng biển mà chúng tôi xin chọn gọi là Biển Ðông không phải là một vài bãi cạn, vài hòn đá, hay vài hòn đảo không người, mà là chính bản chất của chủ quyền của Trung Quốc. Trong số những sứ vụ quân sự của Trung Quốc trong thế giới mới này là để “bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và lãnh hải và duy trì an ninh và ổn định ở vùng ven biên của Trung Quốc.”

Tờ Foreign Policy hỏi, “Những lập trường chủ thuyết như vậy khiến cho khó có thể tin là Trung Quốc sẽ chịu lùi bước trước trong một cuộc đối đầu về quyền hải hành trong vùng.”

Xây dựng một hải quân hùng mạnh đã là ưu tiên của cựu Chủ Tịch Hồ Cẩm Ðào, nhưng kể từ khi ông Tập Cận Bình lên nắm quyền thì cố gắng này đã gia tốc.

Ðiều còn đáng chú ý hơn nữa là một sự chuyển hướng hẳn ra khỏi quan điểm truyền thống về quốc phòng của Trung Quốc. Cho một quốc gia đã xây dựng Vạn Lý Trường Thành như là một sách lược quốc phòng chính, cuốn bạch thư đã đặt ngược hẳn vấn đề, “Lối suy nghĩ cổ truyền rằng đất nặng hơn biển phải được từ bỏ, và tầm quan trọng lớn phải được tập trung vào việc quản lý biển và đại dương và bảo vệ quyền lợi hàng hải. Trung Quốc cần phải phát triển một cơ cấu của một lực lượng hải quân tân tiến tương xứng với an ninh quốc phòng và phát triển quyền lợi, bảo vệ chủ quyền và quyền lợi hàng hải, bảo vệ sự an toàn của các hải lộ chiến lược và quyền lợi ở hải ngoại, và tham gia vào các hợp tác hàng hải quốc tế, để cung cấp một trợ giúp chiến lược cho việc xây dựng một cường quốc biển.”

Và công tác đầu tiên trong việc canh tân quân đội theo cuốn bạch thư này là về khả năng họat động xa khỏi đất nhà. Cuốn bạch thư đòi phải cải thiện quân nhu tiếp liệu.

Cuốn bạch thư tuy là vẫn nhắc đến 'phòng thủ tích cực' của chủ thuyết từ thời ông Mao, nhưng đã đi vào chi tiết để cho thấy là hải quân và không quân đã từ bỏ vai trò phòng thủ cổ truyền để tìm một vai trò năng động hơn, kể cả một hải quân thực sự “biển xanh.” Bạch thư viết, “Ðể đáp ứng đòi hỏi chiến thuật bảo vệ ngoài khơi và bảo vệ trên biển cả, hải quân của Giải Phóng Quân sẽ chuyển từ từ tập trung vào ‘bảo vệ ngoài khơi’ sang một tập hợp ‘bảo vệ ngoài khơi’ với ‘bảo vệ biển khơi,’ và xây dựng một cơ chế lực lượng chiến đấu hải quân kết hợp, đa năng và hữu hiệu. Hải quân của Giải Phóng Quân sẽ tăng cường khả năng cho phòng vệ chiến lược và phản công, hành quân hàng hải, kết hợp hành quân trên biển, phòng thủ toàn diện và hỗ trợ toàn diện.”

Chỉ ở đoạn cuối thì cuốn bạch thư này mới nhắc đến một cách rất không vui vẻ gì cái mà chúng ta có thể tạm dùng danh từ hồi trước của các chế độ Cộng Sản gọi là “nghĩa vụ quốc tế.” Cuốn bạch thư viết, “Ðể đáp ứng với những đòi hỏi mới đến từ gia tăng quyền lợi chiến lược của đất nước, quân đội sẽ tích cực tham gia các hợp tác vùng và quốc tế” nhưng cuốn bạch thư cũng không quên “và bảo đảm hữu hiệu các quyền lợi hải ngoại của Trung Quốc.”

Dầu cho phát ngôn nhân của Ngũ Giác Ðài có biện bạch nói đến việc dầu sao chăng nữa việc Bắc Kinh công khai chính sách là một điều tốt, sự thực là cuốn bạch thư này là một lời tuyên chiến dài dòng với Hoa Kỳ. Bây giờ chúng ta chờ xem Hoa Kỳ sẽ phản ứng ra sao?

Lê Phan
Theo Người việt

Dù Trung Quốc có mưu mô thủ đoạn đến đâu trong việc bành trướng ở Biển Đông cũng không đáng sợ, chỉ sợ chúng ta không đủ niềm tin vào lẽ phải, vào chính mình.

LTS: Trong bối cảnh tình hình Biển Đông đang gia tăng căng thẳng và diễn biến rất mau lẹ do các hành động bồi lấp, xây dựng bất hợp pháp đảo nhân tạo và quân sự hóa của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam cùng sự quan tâm, can thiệp mạnh mẽ từ cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Hoa Kỳ, dư luận đang đặc biệt quan tâm, theo dõi tình hình và sôi sục bàn bạc đối sách cho Việt Nam.

Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam nhận được bài viết của Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ về vấn đề này, xin trân trọng được chuyển đến quý  độc giả.

                             Tiến sĩ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ.

Khoảng hai tuần trở lại đây, dư luận người Việt Nam trong và ngoài nước sôi sục theo những diễn biến mới nhất đáng báo động về hoạt động bồi lấp, xây dựng đảo nhân tạo bất hợp pháp và quân sự hóa 7 bãi đá Trung Quốc chiếm đóng bất hợp pháp của Việt Nam từ năm 1988, 1995.

Đặc biệt kể từ khi đài CNN Hoa Kỳ phát phóng sự về việc máy bay giám sát Hải quân Hoa Kỳ đã bay qua không phận quốc tế gần một bãi đá nơi Trung Quốc đang bồi lấp, xây dựng bất hợp pháp.

Các tầng lớp nhân dân, con em dân tộc Việt Nam trong nước cũng như ở nước ngoài đang đặc biệt quan tâm, theo dõi sát tình hình và từng ngày, từng giờ mong chờ một tuyên bố, phản ứng, đối sách của nhà nước để  được chia sẻ, chung sức cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong công tác bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng mà cha ông chúng ta để lại.

Phải khẳng định rằng, đây là mong muốn, là tâm tư, tình cảm và nguyện vọng tha thiết hết sức chính đáng của người dân Việt Nam trong và ngoài nước.

Nó không chỉ thể hiện mong muốn góp sức chung lòng cùng lãnh đạo Đảng và Nhà nước bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, mà còn là trách nhiệm của mỗi người con giòng giống Lạc Hồng trước mối họa đối với chủ quyền đất nước ở Biển Đông, Hoàng Sa và Trường Sa, nơi các thế hệ cha anh chúng  ta đã đổ biết bao mồ hôi, công sức và xương máu để xác lập và gìn giữ chủ quyền. Mong muốn và tình cảm ấy đã được Đảng và Nhà nước ghi nhận.

Điều này thể hiện rất rõ trong công tác tuyên truyền, giáo dục về chủ quyền, lãnh thổ, biên giới quốc gia.

Phải nói rằng chưa bao giờ người dân Việt Nam lại quan tâm sâu sắc, theo dõi sát sao và bình luận sôi nổi về tình hình biển, đảo của đất nước như bây giờ.

Các phương tiện truyền thông, báo, đài của chúng ta cũng đã dành thời lượng chưa từng có để đưa tin, cập nhật kịp thời các diễn biến mau lẹ trên Biển Đông, cùng các ý kiến phân tích, bình luận của các học giả trong và ngoài nước, các cán bộ lãnh đạo, quản lý và phản ánh tâm tư suy nghĩ của các tầng lớp nhân dân.

Đó là một thực tế rất đáng mừng, đáng trân trọng mà không ai có thể phủ nhận.

Tháng Năm năm ngoái khi trả lời phỏng vấn hãng thông tấn AP và Reuters, người đứng đầu Chính phủ  đã tuyên bố dõng dạc: “Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”.

Tuyên bố này  của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói lên tiếng nói, tấm lòng của hàng triệu người dân Việt Nam khiến đồng bào trong và ngoài nước nức lòng, phấn chấn và tin tưởng.

Phát biểu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về Biển Đông đã làm nức lòng rất nhiều người dân Việt Nam, được dư luận đánh giá cao. Ảnh: SCMP.

Tuy nhiên, trước diễn biến hết sức mau lẹ của tình hình cũng như đứng trước các thời cơ và thách thức trong việc bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, các tầng lớp nhân dân Việt Nam mong mỏi được cung cấp thông tin nhiều hơn nữa thể hiện rõ ràng lập trường chính nghĩa, quan điểm chủ trương và đối sách cụ thể của Đảng và Nhà nước ta.

Qua các phương tiện truyền thông, tôi được biết một số vị Đại biểu Quốc hội lên tiếng đề nghị Quốc hội thảo luận về tình hình Biển Đông, cần thiết ra nghị quyết khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán hợp pháp của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, cũng như các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam trong Biển Đông và lên án các hành vi xâm phạm, gây hấn.

Tôi cho rằng ý kiến này là hoàn toàn xác đáng và cần thiết, nên làm và nó cũng là mong mỏi của mỗi người dân quan tâm đến vận mệnh của quốc gia, dân tộc.

Khi Quốc hội lên tiếng hiệu triệu, tôi tin rằng cả dân tộc Việt Nam đang sẵn sàng sát cánh cùng các đại biểu của mình trong cuộc đấu tranh bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia mà các thế hệ người Việt Nam đã đổ biết bao xương máu để lưu giữ.

Vì vậy, hơn lúc nào hết, mỗi người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế đang hướng về Quốc hội, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, mong chờ những đại biểu của nhân dân  thể hiện lập trường, chủ trương đường lối rõ ràng, đúng đắn, cụ thể, minh bạch của mình.

Từ đó Đảng và Nhà nước sẽ dễ dàng tập hợp tâm huyết và trí tuệ của người Việt Nam trong và ngoài nước cùng chung sức bảo vệ chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.

Đảng và Nhà nước đã có chủ trương hết sức đúng đắn, các công việc dù lớn dù nhỏ của đất nước đều để dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra.

Chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, tương lai của dân tộc, an nguy của nước nhà là việc hệ trọng mà mỗi người dân đều quan tâm và có trách nhiệm.

Hồ Chủ tịch từng nói, "dễ vạn lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong".

Lúc này hơn bao giờ hết, người dân gửi gắm mong muốn, niềm tin của mình vào Quốc hội và mong được chung sức, chia sẻ với Quốc hội đang gánh vác trọng trách đối với việc gìn giữ giang sơn, bờ cõi trước họa xâm lăng và nghĩa vụ chung sức cùng với bạn bè khu vực và quốc tế trong việc gìn giữ môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác, phát triển chung trước nguy cơ bị đe dọa, phá hoại nghiêm trọng.

Ngay từ khi nước nhà mới giành được độc lập, ngày 20/11/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Chỉ thị "Tìm người tài đức", trong đó khẳng định: "Nước nhà cần phải kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào (dân số nước ta thời điểm đó - TS) chắc không thiếu người có tài đức”.

Trong văn bản quan trọng này, Hồ Chủ tịch đã viết: “Vậy chúng tôi mong rằng đồng bào ta, ai có tài năng và sáng kiến về những công việc đó, lại sẵn lòng hăng hái giúp ích nước nhà thì xin gửi kế hoạch rõ ràng cho Chính phủ.

Chúng tôi sẽ nghiên cứu kế hoạch ấy một cách kỹ lưỡng, có thể thực hành được thì sẽ thực hành ngay” (Hồ Chí Minh-Toàn tập, tập IV, Nhà xuất bản Sự thật, Hà Nội, 1984, trang 57).

Bài viết “Tìm người tài đức” của Bác năm 1946 đăng trên Báo Cứu quốc số 411 ngày 20/11/1946. Nguồn: bqllang.gov.vn.

Ngày nay không ít người Việt Nam trong và ngoài nước có tâm huyết, tài năng, trí tuệ và điều kiện đóng góp cho công cuộc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia.

Lâu nay đã có các học giả, các nhà nghiên cứu, các doanh nhân hay  nhà sưu tầm đã bỏ tiền, bỏ công sức nghiên cứu sưu tầm và công bố các tài liệu có giá trị khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như các quyền và lợi ích chính đáng đối với các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam trong Biển Đông.

Tôi tin rằng họ sẵn sàng hiến tặng cho nước nhà, chung sức với Đảng, Nhà nước và Quốc hội trong công tác bảo vệ các quyền thiêng liêng và chính đáng đó.

Với tấm lòng của một người dân đất Việt và kinh nghiệm từng làm công tác biên giới lãnh thổ, nhiều năm nghiên cứu Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 và đã trực tiếp tham gia đàm phán với Trung Quốc, và tư cách của một cử tri tôi xin nêu một vài kiến nghị về việc chung sức chung lòng bảo vệ lãnh thổ và chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc để Quốc hội xem xét.

Đồng thời cá nhân tôi cũng mong muốn được góp sức cùng nhân dân trong và ngoài nước, đặc biệt là đội ngũ học giả người Việt ở trong nước cũng như nước ngoài cùng nhau bảo vệ lấy cơ đồ của Tổ tông.

Một là thành lập ngay một tổ chức thống nhất quy tụ đội ngũ học giả, nhà quản lý, các nhà nghiên cứu hàng đầu trong và ngoài nước về Biển Đông

Lực lượng này rất cần thiết và cấp bách để nghiên cứu,tham mưu cho lãnh đạo đất nước trong việc thống nhất hoạch định chiến lược, sách lược đối phó với các tình huống nhằm gìn giữ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, bảo vệ một cách có hiệu quả các quyền và lợi ích chính đáng của Tổ quốc, dân tộc, nhất là trên các vùng biển đảo của Việt Nam trong Biển Đông;

Giúp cho lãnh đạo trong công tác chỉ đạo về mặt chuyên môn các hoạt động truyền thông, tuyên truyền, giáo dục về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam trên Biển Đông.

Lâu nay chúng ta đã rất nỗ lực giáo dục, tuyên truyền, truyền thông kịp thời đến người dân về công cuộc bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ. Bằng chứng là hàng trăm đầu sách được phát hành, hàng trăm cuộc hội thảo trong và ngoài nước, các cuộc triển lãm về các bằng chứng lịch sử, pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được tổ chức.

Truyền thông nước nhà đã phát hiện kịp thời, đấu tranh chống các hành vi leo thang gây hấn trên thực địa của Trung Quốc đặc biệt là trong vài năm trở lại đây. Chính sự chỉ đạo quyết liệt, tuyên truyền kịp thời của chúng ta đã giành được ủng hộ rộng rãi từ dư luận quốc tế trong vụ Trung Quốc hạ đặt bất hợp pháp giàn khoan 981 trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa Việt Nam năm ngoái.

Ngày càng có nhiều học giả, nhà nghiên cứu lên tiếng vạch trần bộ mặt, bản chất các hành động xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam mà phía Trung Quốc đã, đang và sẽ thực hiện. Có rất nhiều bài báo phân tích sâu sắc, lập luận chắc chắn, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam, phản đối các âm mưu, thủ đoạn xâm phạm.

Tuy nhiên, so với yêu cầu của công cuộc đấu tranh hết sức khó khăn, phức tạp và lâu dài này, nhất là trong bối cảnh hiện nay, những thành quả nói trên còn chưa tương xứng, nếu không muốn nói là còn nhiều yếu kém.

Có thể nói là chúng ta mới chủ yếu mình nói, mình nghe mà thiếu một chiến lược và hoạt động truyền thông bài bản, đặc biệt là đến đối tượng là các học giả, các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chiến lược nước ngoài quan tâm đến vấn đề Biển Đông.  

Muốn được khu vực và thế giới ủng hộ chúng ta, bản thân chúng ta phải thường xuyên tuyên truyền, cung cấp hệ thống bằng chứng có giá trị pháp lý để chứng minh cho chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của mình.

Chúng ta đang thiếu và yếu trong công tác đấu tranh bằng con đường học thuật, pháp lý, bằng chứng đủ sức thuyết phục dư luận quốc tế ủng hộ ta, cũng như tranh tụng trước các cơ quan tài phán.

Theo dõi các hoạt động truyền thông, báo chí đưa tin về tình hình Biển Đông tôi thấy vẫn còn không ít bất cập khi không ít bài viết còn nhầm lẫn những khái niệm pháp lý hết sức cơ bản theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển, đặc biệt là các khái niệm và hiệu lực pháp lý của đảo, quần đảo, quốc gia quần đảo, bãi đá và rặng san hô ngập dưới mặt nước biển khi thủy triều lên.

Đánh dấu trên bản đồ của Google vị trí giàn khoan 981 Trung Quốc hạ đặt năm nay theo tọa độ Cục Hải sự nước này công bố 17°08′14″.0N/110°00′30″.7E. Tiến sĩ Trần Công Trục khẳng định vị trí này nằm ở cửa vịnh Bắc Bộ mở rộng chưa phân định ranh giới giữa ta và Trung Quốc. Đó là một cái bẫy pháp lý nguy hiểm Trung Quốc đang giăng ra với Việt Nam.

Trung Quốc họ nghiên cứu rất kỹ và nhằm trúng điểm yếu này của chúng ta để ra tay trong vụ giàn khoan 981 năm ngoái cũng như năm nay. Rồi việc có những ý kiến băn khoăn không biết ta nên ủng hộ hay phản đối khi Hoa Kỳ lên tiếng sẽ tuần tra không phận quốc tế phạm vi 12 hải lý xung quanh 7 bãi đá mà Trung Quốc đang bồi lấp thành đảo nhân tạo bất hợp pháp ở Trường Sa.

Đó là những vấn đề thực tiễn nóng hổi đặt ra hàng giờ, hàng ngày đòi hỏi chúng ta phải có một chiến lược đối phó mang tính hệ thống, xuyên suốt và chuẩn xác.

Hai là cần sớm hoàn thiện Hồ sơ pháp lý của Việt Nam về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và  Trường Sa, quyền chủ quyền và quyền tài phán hợp pháp của Việt Nam đối với vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của chúng ta trên Biển Đông theo UNCLOS.

Tôi tin rằng các cơ quan tham mưu, hoạch định chiến lược của chúng ta đã chuẩn bị một bộ hồ sơ pháp lý thể hiện chi tiết lập trường, quan điểm, chiến lược và đặc biệt là các bằng chứng có giá trị pháp lý của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như các quyền hợp pháp của Việt nam đối với các vùng biển và thềm lục địa của Việt Nam trong Biển Đông.

Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan, trong vấn đề bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ, đây đó vẫn còn những nhận thức khác nhau đòi hỏi chính người Việt chúng ta phải thống nhất nhận thức với nhau trước mới có đủ tự tin và sức mạnh để đấu tranh với các bên liên quan, đặc biệt là với Trung Quốc.

Tất cả những vấn đề tồn đọng do lịch sử để lại chỉ có thể được giải quyết khi chúng ta tập hợp được đội ngũ nghiên cứu chuyên sâu trong và ngoài nước cùng một nhịp đập trái tim, hơi thở với khát vọng bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ ngồi lại cùng nhau, tập trung trí tuệ để có được các đối sách vững vàng và hiệu quả trước âm mưu lợi dụng những sơ hở của ta mà phía Trung Quốc luôn rắp tâm tìm kiếm, thậm chí gài bẫy ta.

Khi có một bộ hồ sơ pháp lý hoàn chỉnh, đầy đủ, hệ thống, khoa học, khách quan với đầy đủ chứng lý, công tác đấu tranh, tuyên truyền, giáo dục của chúng ta về chủ quyền biển đảo mới thực sự bền vững.

Mặt khác, trên cơ sở hồ sơ này, chúng ta sẽ kịp thời có các phản ứng cần thiết, phù hợp trước các diễn biến đang hết sức mau lẹ trên Biển Đông như hiện nay.

Nó cũng góp phần quan trọng củng cố nhận thức đầy đủ và chính xác, củng cố lòng tin của người dân Việt Nam một cách có cơ sở khoa học vững chắc về chủ quyền biển đảo, đẩy lùi những hoài nghi, lo ngại do thiếu thông tin hoặc nhận thức chưa chính xác.

Ba là, trong khi chờ Đảng, Nhà nước và Quốc hội lên tiếng và có những đối sách cụ thể, tôi rất mong mỏi đội ngũ học giả, nghiên cứu Việt Nam trong và ngoài nước hãy làm hết sức mình trong phạm vi có thể để tham gia vào công tác nghiên cứu, quảng bá giới thiệu về chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán hợp pháp của Việt Nam trong Biển Đông, Hoàng Sa và Trường Sa.

Có một thực tế rằng Trung Quốc đã xâm lược quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam  năm 1956, 1974, 6 bãi đá trong quần đảo Trường Sa năm 1988 và bãi Vành Khăn năm 1995 rồi chiếm đóng bất hợp pháp từ đó  đến nay.

Và cũng có thực tế là họ đã lập hàng chục cơ quan nghiên cứu quy mô lớn để tuyên truyền cho cái yêu sách chủ quyền vô lý, phi pháp và bành trướng trên Biển Đông.

Trung Quốc đang tìm mọi cách để tuyên truyền, quảng bá trên các diễn đàn quốc tế về cái gọi là “chủ quyền lịch sử” của họ đối với hầu hết Biển Đông trong yêu sách đường “lưỡi bò” hết sức phi lý; đồng thời với những hành động hòng đánh lừa dư luận, cài bẫy để giành sự công nhận trên thực tế của các bên trực tiếp hay gián tiếp có liên quan trong và ngoài khu vực đối với yêu sách chủ quyền của họ trong hầu hết Biển Đông.

Trong khi đó, nếu đội ngũ nghiên cứu người Việt chúng ta không đáp trả kịp thời và tương ứng thì vô hình chung chúng ta đã nhường trận địa, nhường thế thượng phong cho đối thủ trên mặt trận tuyên truyền và tập hợp sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ.

Nguy hiểm hơn, với lối nói lấy được cộng với việc chi tiền mua chuộc một số học giả quốc tế, thậm chí là mua chuộc một số quốc gia để đổi lấy sự ủng hộ chủ trương yêu sách phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông, Trung Quốc đã và đang tạo ra rất nhiều khó khăn cho ta trong công tác đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ.

Vì vậy hơn lúc nào hết, lúc này lực lượng học giả, các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách người Việt trong và ngoài nước cần lên tiếng. Hãy tạm gác lại mọi sự khác biệt trong nhận thức do lịch sử để lại, chỉ cùng nhau nỗ lực bảo vệ chủ quyền, tôi tin rằng chắc chắn chúng ta sẽ thắng.

Niềm tin của tôi không phải vô căn cứ, mà nó chính là bài học của cha ông chúng ta để lại. Sách “Đại Việt sử lược” và “Việt Nam sử lược” còn chép rất rõ câu chuyện Thái sư Lê Văn Thịnh, thủ khoa đầu tiên của kỳ thi đầu tiên trong nền khoa bảng Nho học Việt Nam đã dùng tài ngoại giao của mình để đòi lại đất đai cho Tổ quốc khi đàm phán với nhà Tống. Theo Wikipedia:

“Tháng 6 năm Giáp Tý (1084), ông được cử đi đến trại Vĩnh Bình (thuộc Cao Bằng ngày nay) để bàn nghị về việc cương giới với Chánh sứ nhà Tống là Thành Trạc. Sau khi đã "phân giải mọi lẽ", nhà Tống chấp thuận trả lại cho Đại Việt (Việt Nam ngày nay) 6 huyện 3 động thuộc châu Quảng Nguyên (nay là phần đất ở phía Tây Bắc tỉnh Cao Bằng) mà họ đã chiếm trước đây, và cho thông sứ như cũ. Tiếc của, vì nghe đâu nơi ấy có vàng, người Tống có thơ rằng:

'Nhân tham Giao Chỉ tượng
Khướt thất Quảng Nguyên kim’

Nghĩa là:

Vì tham voi Giao Chỉ
Bỏ mất vàng Quảng Nguyên”.

Vì vậy dù Trung Quốc có mưu mô thủ  đoạn đến đâu trong việc bành trướng ở Biển Đông cũng không đáng sợ, chỉ sợ chúng ta không đủ niềm tin vào lẽ phải, vào chính mình mà thôi.

Ts Trần Công Trục

(Giáo Dục)

Sâu Ciu Blog