vietnamese Tiếng Việt english English
Hôm nay:
Tin mới đăng:

Giáo sư Nguyễn Huệ Chi bị cấm xuất cảnh và thu hộ chiếu hôm 18/5/2015 ở phi trường Tân Sơn Nhất.

Ngày 18/5/2015 vừa qua, khi cùng với vợ và con gái ra sân bay Tân Sơn Nhất, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam để đi Mỹ thăm gia đình con gái sống tại đó, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, một trong ba người khởi xướng Bauxite Việt Nam, một blog nổi tiếng về phản biện Đảng cộng sản và Nhà nước Việt Nam, đã bị công an không cho xuất cảnh đồng thời thu hộ chiếu.

Tại “Biên bản về việc chưa cho xuất cảnh” do công an lập có ghi:

“Chuyến bay KB 684 của hãng hàng không Korean xuất cảnh đi Seoul (Hàn Quốc) lúc 23h20’ ngày 18/5/2015. Đồn Công an cửa khẩu sân bay Tân Sơn Nhất phát hiện ông Nguyễn Huệ Chi là người chưa được xuất cảnh theo Đề nghị của Công an thành phố Hà Nội.

"Căn cứ vào Nghị định 136/2B007NĐ-CP ngày 17/8/2007 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, chúng tôi quyết định: lập biên bản chưa cho xuất cảnh đối với ông Nguyễn Huệ Chi; tạm giữ hộ chiếu số B3934536 mang tên Nguyễn Huệ Chi chuyển về Cục quản lý xuất nhập cảnh (44-46 Trần Phú, Ba Đình, Hà Nội); yêu cầu ông Nguyễn Huệ Chi liện hệ Công an thành phố Hà Nội và Cục quản lý xuất nhập cảnh để giải quyết”.

Trường hợp nào bị cấm?

Vậy Nghị định 136/2B007NĐ-CP quy định thế nào về việc công dân Việt Nam không được xuất cảnh?

Theo Điều 21 Nghị định, công dân Việt Nam chưa được xuất cảnh nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

1. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc có liên quan đến công tác điều tra tội phạm.

2. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án hình sự.

3. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án dân sự, kinh tế; đang chờ để giải quyết tranh chấp về dân sự, kinh tế.

Do không phải là luật nên Nghị định 136/2B007NĐ-CP ngày 17/8/2007 của Chính phủ không thể được công an Việt Nam lấy làm căn cứ để không cho công dân Việt Nam, trong trường hợp này là Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, xuất cảnh
Luật sư Hà Nguyễn

4. Đang có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, nghĩa vụ nộp thuế và những nghĩa vụ khác về tài chính trừ trường hợp có đặt tiền, đặt tài sản hoặc có biện pháp bảo đảm khác để thực hiện nghĩa vụ đó.

5. Vì lý do ngăn chặn dịch bệnh nguy hiểm lây lan.

6. Vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội.

7. Có hành vi vi phạm hành chính về xuất nhập cảnh theo quy định của Chính phủ.

Ngoài ra, Điều 22 Nghị định tại Điểm d Khoản 1 quy định “Bộ trưởng Bộ Công an quyết định chưa cho xuất cảnh đối với những người nêu tại khoản 6 Điều 21 Nghị định này” và tại Khoản 3 quy định “Cơ quan nào quyết định chưa cho công dân xuất cảnh thì có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho công dân đó biết, trừ trường hợp vì lý do đảm bảo bí mật cho công tác điều tra tội phạm và lý do an ninh”.

'Không được thông báo'

Về phần Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, ông đã không được bất cứ cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nào thông báo bằng văn bản về việc ông không được xuất cảnh. Đối chiếu với các quy định nói trên có thể suy đoán ông đang bị Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang coi là đối tượng có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia hoặc trật tự an toàn xã hội!

Từ đó, có ý kiến cho rằng Công an Hà Nội không cho Giáo sư Nguyễn Huệ Chi xuất cảnh vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội là trái Nghị định 136/2B007NĐ-CP vì chỉ Bộ trưởng Công an mới có thẩm quyền trong trường hợp này đồng nghĩa Công an Hà Nội phải thu hồi đề nghị không cho giáo sư xuất cảnh. Tuy nhiên cách đặt vấn đề như vậy sẽ không đảm bảo phục hồi quyền xuất cảnh cho Giáo sư Nguyễn Huệ Chi vì Bộ Công an sẽ công bố quyết định có liên quan của Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang mà không có bất cứ khó khăn nào.

     Giáo sư Huệ Chi từ chối ký tên vào biên bản nhưng nêu rõ lý do, theo trang Bauxite Việt Nam.

Quan điểm của tôi là công an Việt Nam không cho Giáo sư Nguyễn Huệ Chi xuất cảnh là trái pháp luật, cụ thể là trái Hiến pháp - luật cơ bản của quốc gia, có hiệu lực pháp lý cao nhất - như chứng minh sau đây.

Điều 23 Hiến pháp Việt Nam 2013 (có hiệu lực từ 1/1/2014) quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Khoản 2 Điều 14 Hiến pháp Việt Nam 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”.

Như vậy, việc không cho công dân thực hiện quyền ra nước ngoài phải được luật, chứ không phải văn bản pháp luật khác, quy định.

Vả lại câu “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” tại Điều 23 Hiến pháp có nghĩa pháp luật đưa ra những quy định nhằm bảo đảm việc thực hiện các quyền con người, quyền công dân (chẳng hạn, công dân phải làm hộ chiếu mới được ra nước ngoài…) chứ tuyệt nhiên không có nghĩa đưa ra những quy định hạn chế các quyền này.

Rõ ràng, việc bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền công dân và việc hạn chế (không cho) thực hiện các quyền này là khác hẳn nhau đồng nghĩa việc thực hiện quyền không thể bao gồm việc không được thực hiện quyền.

Do không phải là luật nên Nghị định 136/2B007NĐ-CP ngày 17/8/2007 của Chính phủ không thể được công an Việt Nam lấy làm căn cứ để không cho công dân Việt Nam, trong trường hợp này là Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, xuất cảnh.

Biện pháp pháp lý

Quốc Hội Việt Nam nhất thiết phải quy định rõ thời hạn không cho công dân ra nước ngoài vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội hoặc lý do khác
Luật sư Hà Nguyễn

Để bảo vệ quyền ra nước ngoài của mình được Hiến pháp bảo hộ, Giáo sư Nguyễn Huệ Chi có thể sử dụng các biện pháp pháp lý sau đây:

Một là, căn cứ Khoản 1 Điều 30 Hiến pháp (Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân) cũng như Luật Khiếu nại và Luật tố cáo, khiếu nại với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc Công an Hà Nội, cụ thể là giám đốc Công an Hà Nội, đã không cho Giáo sư ra nước ngoài trái Hiến pháp (Điều 23, Khoản 2 Điều 14).

Hai là, căn cứ Luật Tố tụng hành chính (Khoản 6 - Người khởi kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính) và Khoản7 - Người bị kiện là cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyết định hành chính, hành vi hành chính) khởi kiện giám đốc Công an Hà Nội tại Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về việc không cho Giáo sư ra nước ngoài trái Hiến pháp (Điều 23, Khoản 2 Điều 14).

Ba là, khiếu nại rồi khởi kiện trong trường hợp khiếu nại không được giải quyết hoặc giải quyết khiếu nại không đáp ứng yêu cầu của Giáo sư.

Lẽ dĩ nhiên những công dân Việt Nam khác bị công an ngăn xuất cảnh vì lý do “bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội” hoàn toàn có thể sử dụng lập luận pháp lý nêu trên để khiếu nại hoặc khởi kiện nhằm bảo đảm quyền Hiến định của mình.

Vấn đề còn lại là sau này khi soạn thảo Luật về xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam, Quốc Hội Việt Nam nhất thiết phải quy định rõ thời hạn không cho công dân ra nước ngoài vì lý do bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội hoặc lý do khác bởi không có quyền nào của con người, của công dân bị đình chỉ vô thời hạn ngoại trừ công dân là đối tượng chấp hành bản án tù chung thân hoặc bản án tử hình.

Luật sư Hà Nguyễn
Gửi cho BBC từ Hoa Kỳ

(BBC)


Hôm qua 27/5, báo Tuổi trẻ có bài Các tướng công an không muốn quy định “quyền im lặng”.

Bài báo phản ánh nội dung họp bàn của các đại biểu Quốc hội về Bộ luật tố tụng hình sự sửa đổi, các đại biểu là tướng Công an đều không muốn quy định quyền im lặng trong bộ luật này.

Lý do đưa ra là quy định sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều tra đấu tranh phòng chống tội phạm.

Tâm lý đấu tranh

Các ông tướng Công an là đại diện cho ngành điều tra cho nên tâm lý nhận thức mang nặng tính đấu tranh phòng chống tội phạm.

Họ cho rằng quy định quyền im lặng đề cao quyền công dân, quyền của bị can một cách không cần thiết trong khi gây khó cho hoạt động điều tra.

Họ cho rằng quy định quyền im lặng nhằm tránh bức cung nhục hình, nhưng bức cung nhục hình lâu nay chỉ là cá biệt ít ỏi do anh em điều tra nóng vội chứ không phải là tệ trạng rộng khắp.

Thực ra việc đòi hỏi cần tạo điều kiện thuận lợi để đấu tranh chống tội phạm là chính đáng, ai mà chẳng muốn chống tội phạm?

Thực chất lâu nay các quy định pháp luật đều đã tạo không gian quyền hạn rộng rãi cho hoạt động điều tra xử lý tội phạm.

Nhưng cũng nên biết rằng mục đích đấu tranh phòng chống tội phạm chỉ là một trong nhiều mục đích của Bộ luật tố tụng hình sự.

Điều 1 Bộ luật tố tụng hình sự quy định về nhiệm vụ của Bộ luật này đã viết về một loạt nhiệm vụ của Bộ luật tố tụng hình sự.

Các nhiệm vụ như: Bảo vệ chế độ, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa và cuối cùng là đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
Mục tiêu nhiệm vụ đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm được nhắc đến sau cùng, cũng tức là tinh thần của Bộ luật tố tụng hình sự coi trọng việc bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân hơn.

Điều này có lẽ cũng bởi đã có sự tiếp những giá trị của luật pháp quốc tế tiến bộ theo đó quyền của công dân được coi trọng hơn mục tiêu xử lý tội phạm.

Tinh thần tiến bộ đó được đúc rút ở nguyên tắc thà bỏ lọt tội phạm còn hơn làm oan người vô tội.

Theo tinh thần của nguyên tắc này thì cơ quan điều tra không phải tài giỏi đến mức vụ án nào cũng tìm ra được thủ phạm.

Và nếu không tìm ra được thì đành chấp nhận bỏ lọt tội phạm còn hơn cứ gắng điều tra để dẫn đến làm oan người vô tội.

Vì nếu bỏ lọt tội phạm thì chỉ sai một lần, còn làm oan thì lại sai những 2 lần (vừa không bắt được tội phạm, vừa làm oan thêm một người).

Ở Việt Nam lâu nay, đặc biệt là các cán bộ điều tra có tâm lý nhận thức coi trọng việc xử lý tội phạm hơn là bảo vệ các quyền công dân.

Điều này dẫn đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm hại vì động cơ mục đích đấu tranh phòng chống tội phạm.

Ví như vụ án giết người và hiếp dâm trẻ em xảy ra ở huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang năm 2005, bị can là Hàn Đức Long hiện đang kêu oan và cho dù hồ sơ có nhiều điểm vô lý không thể chấp nhận, nhưng vụ án cứ bị điều tra mãi để chứng minh cho được thủ phạm.

Nặng tính bạo quyền

Blogger Điếu Cày mới đây tham gia đóng góp ý kiến cho Amnesty International về thực trạng nhà tù ở Việt Nam.

Chính trong Bộ luật tố tụng hình sự hiện tại, nhiều quy định hiện mang nặng tính đấu tranh phòng chống tội phạm.

Các quy định hiện tại trao quyền hạn rộng rãi cho cơ quan điều tra, khiến cho thủ tục tố tụng hình sự nặng tính bạo quyền mà xem nhẹ việc bảo vệ các quyền công dân.

Điều này có lẽ do bởi việc làm luật được thực hiện bởi những người vốn mang nặng tâm lý nhận thức đấu tranh phòng chống tội phạm.

Quy trình tố tụng hình sự mạng nặng yếu tố bạo lực và trao quyền hạn rộng rãi cho cơ quan điều tra thể hiện ở mấy điểm:

Thứ nhất là ở phạm vi rộng về các trường hợp có thể bị bắt ngăn chặn, và quyền bắt giam giữ nằm trong tay cơ quan điều tra.

Điều này khiến cho tình trạng người bị bắt giam giữ rất phổ biến, theo một số liệu được báo cáo gần đây cho biết, hiện cả nước đang cần đến 3600 tỷ đồng để xây thêm 26.000 chỗ giam giữ để đảm bảo tiêu chuẩn giam giữ mỗi người 2 mét vuông.

Tiếp theo là Quy trình tố tụng hình sự hiện trao quyền hạn rộng rãi cho cơ quan điều tra và mang nặng yếu tố bạo lực thể hiện ở quy định thời hạn điều tra quá dài.

Thời hạn điều tra kéo dài cộng hưởng với tình trạng bị bắt giam giữ phổ biến, đây chính là vấn đề cho thấy thủ tục tố tụng hình sự nặng tính bạo quyền.

Bị can bị giam giữ trong phòng kín nhiều tháng năm khiến cho đời sống vô cùng khó chịu, đây chính xác là một sự đày đọa nhục hình. Cần phải thay đổi tình trạng này.

Thứ ba Quy trình tố tụng hình sự hiện mang nặng yếu tố bạo lực thể hiện ở quy định lời khai của bị can cũng là chứng cứ, đây là nguyên do gây ra tình trạng bạo lực rất phổ biến.

Vì quy định lời khai cũng là chứng cứ dẫn đến cơ quan điều tra luôn tìm cách để có được lời khai nhận của bị can để từ đó cho ra kết luận điều tra và hoàn tất trách nhiệm điều tra vụ án.

Để có được lời khai, rất phổ biết là người ta sử dụng biện pháp bức cung nhục hình vốn bị cấm.

Và đó cũng là nguyên do khiến cơ quan điều tra không muốn có quy định về quyền im lặng.

Chỉ Quyền im lặng là không đủ

     Giới ngoại giao nước ngoài quan tâm tới những vụ đánh đập nhắm vào giới blogger ở Việt Nam.

Chế định về quyền im lặng là một trong nhiều vấn đề được đặt ra tiếp thu để thủ tục tố tụng hình sự vừa giúp đấu tranh xử lý tội phạm vừa giúp bảo vệ các quyền công dân.

Đây là xu hướng tiến bộ tất yếu để pháp luật Việt Nam tương thích phù hợp với luật pháp quốc tế giúp tiết giảm đi bạo quyền và tôn trọng các quyền công dân.

Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên Hợp Quốc năm 1966 được Việt Nam ký kết tham gia năm 1982, có quy định:

Trong các vụ án hình sự, tất cả các bị cáo đều được hưởng đồng đều những đảm bảo tối thiểu sau đây: … Được quyền không khai, để khỏi phải tự buộc tội mình, hay khỏi phải thú nhận tội trạng.

Khi đã ký kết Công ước quốc tế thì luật pháp trong nước phải tiếp thu và nội hóa các quy định của Công ước vào pháp luật trong nước.

Bộ luật tố tụng hình sự trước đây cũng đã lồng đưa ý nghĩa quy định của Công ước vào bằng quy định nghiêm cấm mọi hình thức truy bức nhục hình.

Tuy nhiên nếu xét về mức độ gần gũi tương đồng về mục đích ý nghĩa thì quy định bị can được quyền giữ im lặng sẽ gần đúng với tinh thần của Công ước hơn.

Chúng ta đều hiểu như thế nào là đúng là tốt, tuy nhiên giống như bất kỳ một bước đi tới tiến bộ nào, chúng ta luôn gặp phải lực cản.

Đó là sự bảo thủ ỳ trệ bám víu vào những xưa cũ lạc hậu để duy trì lợi quyền của những người bị ảnh hưởng bởi chế định mới.

Những suy nghĩ bảo thủ lạc hậu cho rằng quyền im lặng sẽ gây khó cản trở hoạt động điều tra, điều này là ích kỷ, tham lam và thiển cận.

Vì thực chất như trên đã chỉ ra các quy định pháp luật lâu nay đã dành phạm vi quyền hạn rất rộng cho cơ quan điều tra trong việc phòng chống tội phạm.

Điều này dẫn đến hệ lụy xấu là tính bạo lực phổ biến, cho nên nay cần những chế định mới để tiết giảm bớt lại.

Tuy vậy cũng cần thấy rằng chỉ riêng quy định về quyền im lặng thôi là không đủ, mà còn cần loại bỏ những quy định sai cũ khiến cho quy trình tố tụng hình sự mang nặng tính bạo quyền như đã chỉ ra ở trên.

Luật sư Ngô Ngọc Trai
Gửi tới BBC từ Hà Nội

(BBC)

Bài viết thể hiện quan điểm và cách hành văn của luật sư Ngô Ngọc Trai, Giám đốc Công ty luật Công chính từ Hà Nội.

Sâu Ciu Blog