vietnamese Tiếng Việt english English
Hôm nay:
Tin mới đăng:

Tôi còn nhớ như in cái cảm giác buồn bã, thất vọng khi được phân công về giảng dạy ở một ngôi trường vùng biển. Tôi sợ những con sóng, sợ tiếng gào thét của hàng phi lao mỗi đêm lộng gió và sợ cả những món ăn ở biển, đơn giản là vì tôi không hợp khẩu vị…


Nhưng nỗi lo của tôi trở nên thừa, bởi thực tế, ở vùng biển có những học sinh ngoan ngoãn, những người đàn bà làng chài nhẫn nại hay sự mặn mà, quyến rũ của ẩm thực khiến tôi trở nên yêu mến vùng đất này. Tuy là người mang con chữ đến cho các em vùng biển, nhưng đôi lúc tôi thấy mình như một học trò của những người đàn bà biển, bởi họ chỉ cho tôi cách nấu từng món ăn đậm đà hương vị biển, cho tôi hiểu thêm phong tục cùng thú vui của những người dân vùng biển. Tôi ấn tượng đặc biệt với những món ăn nơi đây. Và món làm tôi khoái khẩu nhất vẫn là gỏi cá trích.
Mỗi mùa một loại cá, nhưng cá trích thì hầu như có quanh năm. Những loại cá lớn, người dân thường mang ra chợ phố bán. Cá nhỏ dùng để làm mắm hoặc phơi khô. Có loại dùng để làm thức ăn dự trữ trong gia đình như kho, nấu, chiên, hấp và đặc biệt là gỏi. Thịt cá trích ngọt, dai và không tanh nên rất hợp để làm món gỏi. Gỏi cá trích là món ăn dân dã có từ lâu đời của những người dân chài vùng biển. Nguồn gốc của món ăn này không ai biết chính xác mà chỉ biết rằng, để làm được gỏi cá trích ngon thì đòi hỏi phải khéo tay và có nghệ thuật.

Khâu đầu tiên trong việc chuẩn bị là cần phải chọn loại cá tươi, ngon, thịt săn, xương nhỏ từ những mẻ cá trích được ngư dân đánh bắt và đưa lên bờ đầu tiên. Cá mua về rửa sạch, bỏ đầu và đuôi, lạng phi hai bên lề, sau đó, lấy đoạn ở giữa, thái cá ra từng lát mỏng, càng mỏng càng tốt.

Cá thái xong, dùng nước cốt chanh ướp khoảng 15 phút, thịt cá trích sẽ chín tái, chuyển từ màu đỏ sang trắng hồng. Đun nóng dầu ăn, cho hành thái lát vào, hành chuyển sang màu vàng, để nguội và cho cá vào trộn đều. Sau đó, nêm các gia vị như muối, tiêu, ớt, tỏi, đậu phụng rang, bánh tráng bóp nát, trộn đều để gỏi ráo và ngon.

Người nào mới ăn gỏi cá trích lần đầu chắc chắn còn có chút do dự. Nhưng khi đã quen với những dư vị của gỏi thì sẽ muốn ăn thêm lần nữa. Gỏi cá trích thường ăn kèm với các loại rau như húng quế, ngò, chuối chát, hoặc bắp chuối thái mỏng, thêm vào vài lát ớt xanh…

Để có món gỏi hoàn hảo, đậm đà, phải biết cách chế biến nước mắm. Nước mắm nhỉ càng tốt. Với những ngư dân vùng biển, thay vì đi siêu thị để chọn cho mình những loại nước mắm đóng chai hấp dẫn, thì phần lớn họ tự chế biến từ các loại cá và ăn kèm với những loại rau thơm, có trong vườn nhà. Gỏi cá là món ăn đậm đà chất biển, dễ chế biến và được xem là món chủ yếu để đãi khách từ nơi khác đến. Thưởng thức gỏi cá trích có vị chua chua của chanh, cay xè của ớt cùng vị ngọt béo của cá, vị chát của chuối và vị mặn mà của mắm biển, vừa ăn, vừa nghe tiếng rôm rốp của bánh tráng thì tuyệt vời biết mấy. Món gỏi cá không kén người thưởng thức cũng không cần chọn thời điểm thích hợp. Bất kỳ mùa nào trong năm cũng có thể làm gỏi cá để ăn, đãi khách.

Đã quá quen thuộc với hương vị cá hấp, cá nướng, cá nấu lẩu… thì gỏi cá trích là món ăn vừa ngon miệng, vừa có hương vị riêng. Gỏi cá trích từ lâu được xếp vào danh sách 6 món gỏi đầy mê hoặc của ẩm thực Việt và là món ăn quen thuộc của mỗi gia đình vùng biển miền Trung.

Ban ngày, tôi thường mải mê với những bài giảng, con chữ. Tối đến, tôi đi dạo một vòng quanh xóm nhỏ để xem các em học bài và để… học lỏm cách chế biến những món ăn ngon, độc, lạ của những người phụ nữ vùng biển. Tôi coi đó là chút “tài sản’’ để thêm vào kỹ năng nấu nướng của mình. Những người phụ nữ làng chài, ban ngày, họ tháo vát, lam lũ bên những gánh cá, đêm về, họ là những phụ nữ dịu dàng bên bếp lửa gia đình để chuẩn bị bữa tối cho chồng, con.

Ngỡ rằng, khi đến với vùng biển, tôi chỉ cần mang theo những con chữ và cố gắng dạy vài năm rồi về với phố thị. Nhưng hồn người, hồn ẩm thực ở đây đã làm tôi yêu hơn mảnh đất này. Từ đó, tôi biết cách chế biến những loại hải sản tươi ngon, trong đó có món gỏi cá trích. Và tôi cũng nhận ra rằng, không chỉ học hỏi những con chữ trong sách vở, mà cả những bài học trong cuộc sống. Nhất là công việc nấu nướng – đó được xem là bí quyết giữ gìn hạnh phúc gia đình.

Nhắc đến sông La là nhắc đến bản tình ca sông nước. Sông La không chỉ là niềm kiêu hãnh của quá khứ mà là vinh quang hiện tại. Dòng sông La đang vỗ nhịp cùng nhịp đi của bao người.

Ngọn nguồn của sông La là nơi giao lưu, gặp gỡ của 2 dòng sông: Ngàn Sâu và Ngàn Phố. Đây chính là địa chỉ bến Tam Soa.
Bến Tam Soa (Tùng Ảnh – Đức Thọ).
Đã từ bao đời nay, bến Tam Soa không chỉ là thắng cảnh thu hút du khách mà còn là nơi trao đổi hàng hóa của bao vùng quê. Tam Soa ngày xưa trong thơ Huy Cận phảng phất vị buồn mà đẹp:

Tới ngã ba sông nước bốn bề

Nửa chiều gà lạ gáy bên đê

Làng xa lặng lẽ sau tre trúc

Bến cũ thuyền em sắp ghé về…

Người con gái trong chiếc thuyền thơ có thể là quần the, áo lụa, có thể là chiếc áo nâu sồng, tần tảo. Nhân chứng giờ đã trôi theo dòng thời gian, nhưng câu thơ vang ngân và bóng hình quê hương, sông nước, vẻ đẹp của cô gái chèo thuyền trên sông La trong áng mây tà vẫn hiện hữu. Cảm ơn nhà thơ Huy Cận đã có những cảm xúc và ghi lại bằng thơ những giây phút ấy. Tôi nhớ một lần được nghe nghệ sĩ nhiếp ảnh Phan Thoan kể: Ông đọc bài thơ này rồi trằn trọc không sao ngủ được. Thế là ròng rã suốt 3 tháng liền, ông leo hết đồi này, núi nọ, chờ ánh sáng đẹp và khung cảnh bến Tam Soa thơ mộng nhất, chọn cho mình một góc ưng ý để bấm máy. Sự đam mê nghệ thuật của ông đã được đền đáp bằng tấm ảnh Bến Tam Soa được trưng bày ở phòng triển lãm, khiến bao người khâm phục. Bức ảnh ấy cùng tấm ảnh O du kích nhỏ vẫn ở mãi cùng ông, cùng quê hương Đức Thọ.

Nhiều du khách tới tham quan hay những đứa con “nửa đời phiêu bạt” về lại với sông La đã thấy bến Tam Soa thay đổi nhiều. Nằm cận bến Tam Soa là núi Quần Hội, nơi yên nghỉ của Tổng Bí thư Trần Phú. Dưới chân núi Quần Hội là một quần thể di tích được tôn tạo trang nghiêm và hoành tráng. Đặt chân tới bến Tam Soa, du khách sẽ không thôi nhớ về một thời oanh liệt của phà Linh Cảm. Những ngọn đồi lúp xúp ngày nào còn đỏ au màu đất và loang lổ đạn bom, nay đã lợp kín bằng những tán cây xanh của thông, tràm, bạch đàn. Cây xanh trên núi biếc của Tam Soa cứ mỗi sáng, mỗi chiều lại dạo cùng sóng nước sông La những tình khúc về quê hương, xứ sở “Đức Thọ gạo trắng, nước trong”. Riêng tôi đã nhiều lần được tắm trên bến Tam Soa và chứng kiến vẻ đẹp của bến nước này.

Khi bàn tay cầm được hòn sỏi nhỏ, khi vốc ngụm nước trong vắt phả vào người, khi bốc nắm cát mịn dưới đáy sông, tôi thấy hồn mình thư thái lạ. Trời cao xanh yên ả, xa xa là âm thanh náo nức của một vùng quê. “Thiên Nhẫn trùng trùng soi bóng bến Tam Soa”. Những bờ xôi, bãi mật hai bên bờ sông, từ Tùng Ảnh, Sơn Tân, Sơn Long…, màu xanh sung mãn ngút ngàn. Thu vào đáy mắt của tôi là nước biếc, trời xanh, đồng xanh. Mắt tôi sáng lên từ những màu xanh ấy và hình bóng những con đò dọc suốt hàng thập kỷ từ miền sơn cước về xuôi đầy ắp chè, chuối, cam, bưởi và cả song mây, nứa lá.

Vào những đêm trăng mát mẻ, đám trai gái làng ngã ba sông nước lại có những cuộc du thuyền đầy mơ mộng. Trăng càng tỏ, bến Tam Soa càng đẹp. Trong quán nhỏ, tiếng đàn bầu ngân lên thánh thót. Âm thanh neo xuống đáy sông, tan vào ánh trăng làm cho cả trời đất, tinh tú miên man trong tiếng đàn.

Làng bên sông

Nếu bên này sông La có làng Tùng Ảnh nổi tiếng về học hành, chữ nghĩa thì bên kia, làng Trường Sơn được cả nước biết đến là đất trăm nghề.

Làng nghề đóng tàu bên sông La
Chúng tôi đã có một cuộc du ngoạn dọc sông La. Thuyền tới bãi Ngưu Chữ rồi tắt máy, tất cả anh em đổ lên bờ. Dân địa phương gọi Ngưu Chữ là bãi Cồn Soi. Cồn Soi nằm trên sông La từ ngàn đời nay. Nó giống như ngòi bút nên mấy ông đồ nho theo thuyết phong thủy đặt tên là Ngưu Chữ. Ngày xưa, phía làng Hạ (Tùng Ảnh) nhờ có dòng sông La “nổi bút” nên có nhiều người đỗ đạt, làm quan to. Bãi Ngưu Chữ bây giờ không còn là cồn bãi đìu hiu mà trở thành một xóm nhỏ sầm uất. Mùa nào thức ấy, mùa đông, su hào, bắp cải; mùa hè, rau muống. Rau trên “ốc đảo” này phủ đầy phiên chợ quê.

Con sông La chạy dài hơn 15 km, phía hữu ngạn chảy tới đâu, đê lượn vòng tới đấy. Bờ đê cỏ xanh rì. Những chú trâu sau buổi làm đồng về lại đủng đỉnh gặm cỏ. Khi đã no nê, chúng được lũ trẻ tóc he, da đồng đưa xuống sông kỳ cọ. Mấy chú nhóc khoái trá mở hội thi trâu vượt sông và cười nắc nẻ. Hồn nhiên để lại dấu ấn cho những đứa con sau này công thành, danh toại lại nhớ về một khúc sông quê. Không ai khác, mình là đứa trẻ tắm cho trâu giữa dòng xanh của sông La. “Một dòng sông xanh chảy mãi tới vô cùng”. Sông chảy trong ký ức, sông chảy giữa tim người. Sông La chảy trong niềm vui bất tận và trong nỗi buồn sâu lắng. Con cá dưới sông, cây trồng trên bãi/Lúa gặt rồi còn để lại rơm thơm…

Đi thuyền trên sông La, bao nhiêu cảm xúc cứ dâng lên trong lòng, thuyền đến Trường Sơn lúc nào không hay. Vừa lên khỏi bến đã chạm ngay hình ảnh san sát những con thuyền. Trường Sơn từ xa xưa đã nổi tiếng về nghề đóng thuyền. Hàng trăm chủ hộ hiện đã có thuyền máy. Con người nơi đây luôn phải đối mặt, chống chọi với thủy thần. Kể cũng lạ! Lụt có lúc trôi nhà, trôi cửa, nhưng rất ít người rời khỏi xứ sở này. Trường Sơn đa dạng ngành nghề và họ làm gì cũng giỏi.

Một cán bộ xã kể cho tôi nghe nhiều trận quần nhau với lũ khá thú vị. Trường Sơn bao giờ cũng thế, chủ động và linh hoạt. Khi lũ lớn, cấp ủy và chính quyền địa phương chỉ đạo cán bộ thôn tập trung mọi nguồn lực để sơ tán người và tài sản lên vùng an toàn. Những lúc đó, phía tả ngạn đê sông La, trống nổi tùng tùng suốt đêm. Những người khỏe mạnh, trai tráng được phân công nhiệm vụ thì ào lên mặt đê để đọ sức với “thủy tinh”. Nhiều người dân ở đây thú thật, trong cơn lũ, họ vẫn nhận được “quà tặng của lũ” đó là củi, gỗ từ thượng nguồn trôi xuống, nhiều lúc còn có cả động vật và chim thú quý hiếm.

Bí thư Đảng ủy xã tâm sự: “Đối với Trường Sơn, lũ tuy gây hại lớn nhưng cũng mang lại không ít lợi ích vì sau lũ, lượng phù sa nhiều hơn. Đất phù sa trồng dâu – dâu tốt, trồng mía – mía ngọt, trồng ngô – ngô nhiều bắp”. Đúng như cha ông ta đúc kết: nhất cận thủy, nhị cận sơn. Bây giờ, ở Trường Sơn, đất gần bến đắt chẳng kém gì thị thành.

Sau cuộc du thuyền, chúng tôi vào một quán đặc sản dê nổi tiếng của Trường Sơn. Họ làm thịt một con dê chỉ trong vòng 30 phút và khi ăn không nghe mùi khét của dê. Đây là bí quyết của người Trường Sơn. Còn nói tới nông nghiệp, nhiều chủ hộ có 6-8 tấn thóc; nếu làm nghề vật liệu xây dựng từ nung vôi, đốt gạch, cào hến… ai cũng làm được. Không ít chủ hộ làm nghề dịch vụ buôn bán, làm bánh kẹo, thu lãi hàng chục triệu đồng. Nghề đan cót và làm các vật dụng khác vẫn đang được kế nghiệp từ đời này sang đời khác.

Làng bên sông giàu và đẹp được chắp cánh từ dạt dào sóng vỗ sông La.

Tháng 2/2015
Theo Báo Hà Tĩnh

Câu lạc bộ Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh của phường Nam Hồng (TX Hồng Lĩnh) được thành lập từ tháng 4/2012, đến nay, đã quy tụ được 25 thành viên là những hạt nhân văn nghệ của phường có niềm đam mê với loại hình nghệ thuật này.
Các thành viên đều là những người nông dân, tiểu thương, giáo viên, cán bộ, công chức yêu ca hát tự nguyện tham gia. Hàng tháng, lúc rảnh rỗi, họ lại quây quần bên nhau, cùng xướng lên những điệu ví mang đậm bản sắc dân gian về tình cảm vợ chồng, cuộc sống thường ngày…
Bác Phan Quang Tảo – Chủ nhiệm CLB chia sẻ: “Lúc đầu, tôi vận động thành lập CLB chỉ vì mê hát, các thành viên cũng có chung niềm đam mê nên gia nhập. Được sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền và các đoàn thể nên CLB mạnh dần về số lượng, chất lượng các đợt biểu diễn được nâng lên, tạo dư âm tốt trong cộng đồng. Bản thân tôi được Nhà nước công nhận là nghệ nhân dân gian. Đó là niềm vinh dự không chỉ cho bản thân mà cả CLB. Chúng tôi không quy định thời gian sinh hoạt hàng tháng mà lúc rảnh rỗi, mọi người tập trung để học và truyền cho nhau những câu ca, điệu ví mới nhằm chia sẻ những khó khăn, vất vả trong cuộc sống. Dân ca ví, giặm còn là di sản của đời trước để lại nên chúng tôi phải phát huy và bảo tồn”.

Dân ca ví, giặm không ngừng phát triển cả về bề rộng lẫn chiều sâu, trở thành bản sắc riêng và là món ăn tinh thần của người dân xứ Nghệ
Dù bận rộn với công việc “trồng người” nhưng lúc rảnh rỗi, chị Kiều Thị Phương – giáo viên Trường Tiểu học Nam Hồng lại tham gia tập hát và sáng tác những điệu ví, câu ca để tập cho các thành viên CLB. Với chị, làn điệu dân ca đã ăn vào máu thịt. Chị Phương tâm sự: “Khi còn nhỏ, tôi được nghe bà, mẹ hát ví, giặm nên cũng lẩm bẩm hát theo. Khi phường thành lập CLB Dân ca ví, giặm, tôi đã tích cực tham gia”.

Dù là thành viên nhỏ tuổi nhất nhưng bạn Nguyễn Thị Bích Thuận – một cán bộ trẻ của phường Nam Hồng rất hào hứng với những bài dân ca mà bác Tảo và các anh, chị trong CLB truyền dạy. “Hay lắm chị ạ. Qua lời ca, tiếng hát, em thấy yêu đời, say mê công việc hơn và nhất là mỗi vần điệu đều mang những giá trị nhân văn về cuộc sống, nhờ đó mà em trưởng thành và chín chắn hơn” – Thuận chia sẻ.

Mặc dù mới thành lập hơn 2 năm nhưng CLB Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh của phường Nam Hồng đã giành được nhiều thành tích đáng tự hào. Lần đầu tiên tham gia liên hoan dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, CLB giành giải xuất sắc; đồng thời, giành giải ba tại liên hoan dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh lần thứ II. Trong đêm báo cáo chương trình dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh tổ chức vào tháng 11/2014 vừa qua, 25 thành viên của CLB đã mang đến cho đêm diễn 12 tiết mục được dàn dựng công phu, mang tính nghệ thuật cao như: “Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò Nghệ Tĩnh”, “Ô lục soạn”, “Thử lòng chung thủy” – dân ca lời cổ, “Tình quê”… Những khúc dân ca nói về công cha, nghĩa mẹ, đạo làm con, khiến người nghe đều bồi hồi xúc động như “Thập âm phụ mẫu”, “Phụ tử tình thâm”…

Xen lẫn chương trình là những tiết mục vui nhộn, tinh nghịch nhưng lấp lánh vẻ đẹp trí tuệ và tình yêu cuộc sống như bài hát “Bần hát ghẹo”, “Ví đố vui” – dân ca lời cổ đã giúp khán giả thấy được nét chất phác và hồn nhiên cũng như sự tài tình, linh hoạt trong ứng đối của người dân Xứ Nghệ.
Theo Báo Hà Tĩnh

Ngày 2/3/1965, quân đội Mỹ bắt đầu ném bom miền bắc Việt Nam, mở màn cho cuộc chiến tranh xâm lược. Đây là cuộc chiến vấp phải sự phản đối và chỉ trích từ cộng đồng quốc tế.

Trực thăng của quân đội Mỹ càn quét qua một khu vực ở miền bắc Việt Nam. Sấm Rền hay còn gọi là Chiến tranh phá hoại miền bắc lần thứ nhất là chiến dịch ném bom dài nhất do Không quân Mỹ thực hiện kể từ Chiến tranh Thế giới II.
Một binh sĩ Mỹ trú trong lán trại.
Người dân phải dùng đòn gánh để đưa con tới nơi trú ẩn. Theo số liệu ước tính, tổng số người Việt Nam thiệt mạng trong cuộc chiến từ 800.000 đến 3,1 triệu người, Sputnik đưa tin.
Binh sĩ Mỹ trú ẩn dưới một hào đất. Chiến tranh tại Việt Nam là cuộc chiến dài nhất trong lịch sử Mỹ. Số lượng người bị thương trong cuộc chiến này đứng thứ 4, sau nội chiến Mỹ, Chiến tranh Thế giới II và Chiến tranh Thế giới I.
Nhạc sĩ huyền thoại John Lennon và vợ, bà Yoko Ono. John Lennon đã sáng tác bài hát Give Peace a Chance (Hãy cho hòa bình một cơ hội) với nội dung phản đối cuộc chiến. Tháng 10/1969, John đã hát bài này trước khoảng 500.000 người biểu tình phản đối cuộc chiến do Mỹ phát động.
Các em nhỏ vô tội là một trong số những nạn nhân của cuộc chiến. Quân đội Mỹ đã thực hiện hàng loạt tội ác như hãm hiếp phụ nữ, thảm sát dân thường, đánh bom các khu dân sự…
Tàu tuần dương Canberra của quân đội Mỹ phóng hỏa lực. Mỹ đã chi 352 tỷ USD cho các hoạt động quân sự trong cuộc chiến.
Binh sĩ Mỹ đổ bộ.
Sĩ quan thủy quân lục chiến Mỹ bế một phụ nữ Việt Nam lên trực thăng cứu hộ.
Mỹ chịu tổn thất lớn trong cuộc chiến tranh này với gần 60.000 binh sĩ thiệt mạng cùng hơn 300.000 người khác bị thương. Ngoài ra, quân đội Mỹ cũng mất 9.000 máy bay, trực thăng và số lượng lớn trang thiết bị khác.
Một cuộc phản đối chiến tranh tại Việt Nam diễn ra ở thành phố London của Anh, ngày 29/6/1966. Kể từ khi phát động cuộc chiến tại quốc gia Đông Nam Á, quân đội Mỹ vấp phải hàng loạt sự chỉ trích và các cuộc biểu tình phản đối tại nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt, cuộc biểu tình “Tháng 3 ở Lầu Năm Góc” tại Washington DC, tháng 10/1967 đã thu hút sự tham gia của 100.000 người. Tháng 8/1968, các cuộc biểu tình chống chiến tranh đã lan rộng tới cuộc họp của Đảng Dân chủ tại thành phố Chicago.
Ngày 15/1/1973, Tổng thống Mỹ khi đó là Richard Nixon đã tuyên bố quân đội Mỹ ngừng các hoạt động quân sự chống lại miền bắc Việt Nam. Theo Hiệp định Paris về kết thúc chiến tranh và lập lại hòa bình tại Việt Nam được ký kết vào ngày 27/1/1973, Mỹ sẽ rút quân khỏi miền nam Việt Nam, đóng các căn cứ quân sự và hai bên trao đổi tù binh. Tháng 4/1975, trong chiến dịch Hồ Chí Minh, quân đội Việt Nam đã đánh bại quân đội Mỹ và giải phóng hoàn toàn miền nam.


Nhắc đến Thạch Hội, một trong những xã Biển Ngang, không ai lại không biết tới làng nghề có từ lâu đời, đó là nghề làm trống tại xóm Bắc Thai xã Thạch Hội

Để làm được những chiếc trống bền, đẹp, người thợ phải trải qua hơn 10 công đoạn.

Đến Bắc Thai, ngay từ đầu làng, chúng tôi đã nghe rõ âm thanh rộn ràng của máy bào, cưa, xen lẫn tiếng thử trống thùng thình… Các gia đình nhộn nhịp chạy đua với thời gian để kịp đưa ra thị trường những chiếc trống tốt nhất cho mùa lễ tết. Đang tất bật vận chuyển gỗ, chuẩn bị nguyên liệu để làm trống, anh Bùi Văn Thuận cho biết: “Đến dịp lễ tết, khách hàng nhiều nơi về đây mua trống. Có người ở xa 50-80 km, khách ngoài tỉnh cũng thường xuyên đặt hàng”.

Cũng theo anh Thuận, hiện nay, làng trống Bắc Thai có khoảng 20 cơ sở làm trống chuyên nghiệp theo hình thức “cha truyền con nối”. Hầu hết, thợ làm trống đều là con cháu dòng họ Bùi như hộ ông Bùi Văn Trăn (SN 1944), ông Bùi Văn Điểng (cố Đỉnh), Bùi Văn Tứ…

Theo cụ Bùi Tụ (80 tuổi), nghề trống đã xuất hiện ở Bắc Thai từ lâu đời, khi cụ sinh ra đã nghe tiếng gõ, tiếng đục và tiếng thùng thình của trống. Thế hệ này truyền thế hệ khác. “Trẻ con trong làng, 10 tuổi đã biết các công đoạn làm trống, lớn hơn vài ba tuổi là biết làm chiếc trống con, rồi 20-25 tuổi đã bắt đầu làm chiếc trống đại…” , cụ Bùi Tụ cho biết.

Những chiếc trống thành phẩm

Người Bắc Thai làm một chiếc trồng mất khoảng 3-4 ngày nếu nguyên liệu có sẵn, ngược lại, có khi mất đến gần cả tháng. Để có được những chiếc trống bền, đẹp, người thợ phải trải qua hơn 10 công đoạn. Trước tiên là chọn gỗ tốt, thường là gỗ mít. Gỗ được phơi khô, đo, cắt, uốn cong, xử lý mối mọt mới được sử dụng làm thân trống. Để phơi khô gỗ, người thợ dùng máy cắt gỗ thành từng thanh mỏng, nhỏ với kích thước khác nhau. Thông thường, nếu nắng to thì chỉ cần 3-5 ngày là có thể sử dụng. Tiếp đó là công đoạn khép thùng, bào môi, đóng dây mây, làm khoen trống. Công đoạn quan trọng quyết định thành hay bại của một cái trống là khâu chọn da trống. Chọn da bò (không dùng da vùng cổ, bụng, đùi vì khi đánh, mặt trống sẽ bị rách). Da bò được mua tại các lò mổ đem về làm sạch, phơi khô.

Đặc biệt, muốn trống có tiếng kêu thanh, vang thì trước khi bịt, da phải được bào thật kỹ. Đây là phần việc rất khó, đòi hỏi người thợ phải có sự tỉ mẩn và cẩn thận. Bởi tùy theo loại trống, dăm trống mà lạng da mỏng hay dày. Nếu làm mặt trống to thì lạng da dày, mặt trống nhỏ thì da mỏng. Sau đó, người thợ cắt da theo kích thước đã định, ngâm nước 12 giờ cho mềm da. Kế đến là dùng dao khoét lỗ nhỏ khoảng 2 ly đều xung quanh vòng tròn miếng da, cách nhau 5 cm. Dây da bò được xâu qua lỗ để đưa qua giàn trò căng mặt trống. Chính kỹ thuật ghép gỗ khéo léo, bí quyết bào da đã tạo nên sự khác biệt cho từng chiếc trống Bắc Thai.

Sau kỹ thuật lắp giàn trò, tăng đơ trống, đóng chốt tre là khâu trang trí. “Hình dáng trống Bắc Thai rất đơn giản. Bình thường, mỗi chiếc trống làm xong chỉ cần vôi ve là được. Nhưng với trống hội hay trống chùa, nếu có yêu cầu, chúng tôi sẽ trang trí hoa văn, màu sắc để thêm sinh động”, ông Bùi Văn Điểng – một nghệ nhân làm trống lâu đời cho hay.

Trống Bắc Thai được chở đi khắp các chợ

Trống Bắc Thai được chở đi khắp các chợ nhưng chủ yếu vẫn là khu vực chợ tỉnh. Giá thành cũng đa dạng, tùy nhu cầu của thị trường. Thông thường, giá một chiếc trống lớn có chiều cao 2,2m từ 10-15 triệu đồng; trống trung bình từ 5-7 triệu đồng/chiếc và loại trống cơm thường khoảng 500.000 đồng/chiếc. Anh Bùi Văn Tứ, con trai cụ Bùi Văn Điểng cho biết thêm: “Giá trống tùy vào kích cỡ, yêu cầu của khách đặt, cùng một kích cỡ nhưng nếu yêu cầu cao thì giá thành sẽ cao hơn…”.


Nghề làm trống đang đem lại thu nhập ổn định cho người dân nơi đây. Trung bình mỗi hộ thu nhập từ 120-150 triệu đồng/năm. Trong khi nhiều làng nghề đang bị mai một vì thiếu nhân lực thì nghề trống Bắc Thai ngày càng được nhân rộng. Nhiều gia đình có đến 3 thế hệ làm trống như hộ ông Bùi Văng Điểng, Bùi Tụ, Bùi Văn Thuận… Không chỉ họ Bùi, nhiều dòng họ khác cũng đang phát triển nghề này, góp phần giữ gìn nghề truyền thống làng Bắc Thai.

Bài viết được dẫn nguồn từ Báo Hà Tĩnh và FanPage: Người Thạch Hội

Mời quý độc giả đọc thêm bài viết về người con xã Thạch Hội : Anh hùng Dương Chí Uyển

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý là một trong những cây đại thụ của nền âm nhạc Việt Nam, một trong 5 nhạc sĩ đầu tiên thành lập nên Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Sinh ra ở Nghệ An, vậy mà, một thời gian dài, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý được bầu làm Chủ tịch Hội Đồng hương Hà Tĩnh tại TP Hồ Chí Minh. Duyên nợ sông La - núi Hồng theo ông mãi cho đến những năm tháng cuối đời.

Hình ảnh nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý

Tôi đến thăm ông tại ngôi nhà nhỏ nằm trong con hẻm gần chợ Tân Định, quận 1 trong một buổi sáng cuối đông se lạnh. Đón tôi ở cổng là người phụ nữ giúp việc ngoài 50 tuổi và đứa cháu ngoại của nhạc sĩ chừng 10 tuổi. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý ngồi trầm tư trên chiếc giường nhỏ, dõi ánh mắt xa xăm ra phía cửa, mái tóc bạc trắng, phất phơ. Khi biết tôi là người Hà Tĩnh, người nhạc sĩ già chớp chớp hàng mi bạc trắng rồi thốt lên: “Tôi không phải người Hà Tĩnh, nhưng Hà Tĩnh với tôi ân tình sâu nặng chẳng khác nào quê hương!”.

TÌNH SÂU NGHĨA NẶNG
Sau vài câu xã giao, ông kể cho tôi nghe về những năm tháng tuổi thơ hàn vi nhưng nhiều kỷ niệm trên quê hương Xô-viết. Ông sinh ra tại thành phố Vinh (Nghệ An) nhưng nguyên quán lại ở Vĩnh Phúc. Cha mẹ ông là công nhân Nhà máy Xe lửa Trường Thi. Ngày bé, Nguyễn Văn Tý học ở Trường Quốc học Vinh, được chọn tham gia dàn nhạc thánh ca, được học nhạc lý và học đàn guitar từ các giáo viên người Pháp và người Hoa. Năm 1945, ông tham gia phong trào Việt Minh, sáng lập và xây dựng đoàn kịch thơ, kịch nói của Thanh niên Cứu quốc Nghệ An và bắt đầu sự nghiệp sáng tác của mình.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý và duyên nợ núi Hồng - sông La
Điểm lại các bài hát của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, dù là tình khúc hay nhạc cách mạng, luôn có dáng dấp những người phụ nữ mà ông yêu mến. Phụ nữ là nguồn cảm hứng bất tận làm nên hàng loạt nhạc phẩm đi cùng năm tháng của ông. Nếu trong tình khúc, họ là những thiếu nữ kiều diễm, mơ màng thì ở những bài ca cách mạng, ngợi ca quê hương, đất nước, lao động sản xuất…, họ là người phụ nữ Việt Nam sáng ngời tinh thần “anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang”. Ông tâm sự, từ tình cảm thương kính người mẹ tảo tần, “hiền như củ khoai, củ sắn” và hình ảnh 2 người vợ hiền sớm bỏ ông về bên kia thế giới khiến ông mến yêu thân phận những người phụ nữ. Trong 4 bài hát của ông viết về Hà Tĩnh, đều thấp thoáng bóng dáng những người phụ nữ trên dải đất này.

Ông kể, khi ông 20 tuổi, cha ông hy sinh vì bom giặc Mỹ; mẹ ông một mình phải gồng gánh nuôi đàn con thơ đang tuổi ăn, tuổi lớn. Trong ký ức người nhạc sĩ già vẫn hằn in bóng dáng người mẹ sáng sớm tinh mơ quang gánh đi về phía biển, gánh muối về bán kiếm tiền nuôi con. Dáng mẹ gầy và gánh muối oằn trĩu trên bờ cát trắng đi vào ca khúc đầu tiên “Đường về Hộ Độ” của ông với xúc cảm thiêng liêng của một người con: Ngày xưa mẹ đi về Hộ Độ/ Mua được muối mang về không đi bằng đường bộ mà phải theo đò vượt biển khơi sóng vỗ/ Bao đêm mất ngủ, mới đưa được muối về/ Ôi, con đường xưa sao mà trắc trở, cũng vì con nhỏ bao gian khổ cũng không nề…

Ca khúc thứ hai của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý về Hà Tĩnh và cũng là bài hát được nhiều người biết nhất là Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh. Khi tôi hỏi về ca khúc này, người nhạc sĩ già rung rung mái tóc, ánh mắt rưng rưng dâng trào cảm xúc. Ký ức một thuở chợt hiện về. Thuở ấy, vào tuổi đôi mươi, ông là chàng nhạc sĩ nghèo nhưng rất hào hoa, ngày ngày tập đàn guitar trên căn gác nhỏ. Có cô gái nhà bên tên là Báu, mê tiếng đàn mà đem lòng yêu nhạc sĩ. Chàng nhạc sĩ nghèo cũng ngất ngây trước vẻ đẹp thánh thiện của cô rồi thầm yêu, trộm nhớ. Thế rồi, mẹ cô gái biết chuyện, bà cho rằng, không môn đăng, hộ đối nên tìm cách ngăn cản. Cô gái vì thế mà tương tư, xanh xao như tàu lá héo. Còn chàng nhạc sĩ vì phận nghèo đành để mối tình đầu tuột khỏi tầm tay.

Rồi một ngày, cô Báu đi lấy chồng và cô đã mai mối cho ông một người con gái ở thôn quê làm nghề dệt vải. Ông đã về bến sông quê tìm cô gái làng dệt. Hai người gặp nhau, dù “tình trong như đã” nhưng “mặt ngoài còn e”. Rồi, ông ra Hà Nội công tác. Sau này, một người quen của cô gái gặp ông ở Hà Nội bảo rằng: “Anh có một cái tội rất lớn. O tôi đã chờ anh gần 20 năm, ai hỏi cũng bảo đã có chồng. Vì một chữ thương, cả tuổi xuân đánh đổi chỉ để chờ đợi một người con trai không ước hẹn”. Và rồi, đã nhiều lần nhạc sĩ trở lại bến sông xưa, nhưng bóng dáng người thương nay đã không còn.

Thương về người con gái sông quê, trong ca khúc Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh, ông đã viết: Ai hôm nay ra khơi buông lưới. Mà nhìn chi mãi con tàu vào bờ. Nhìn bến cảng lại nhớ ngày xưa. Thương con đò cắm con sào đứng đợi... “Con đò cắm sào đứng đợi chính là hình ảnh của người con gái làng dệt năm nào” - nhạc sĩ ngậm ngùi.

Nhớ đến bài hát này, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý cứ nhắc hoài Phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính tỉnh Hà Tĩnh thời ấy là ông Trần Quang Đạt (sau này là Chủ tịch UBND tỉnh – PV). “Tôi rất biết ơn ông Đạt, người đã giúp tôi rất nhiều trong quá trình đi thực tế viết 2 ca khúc về Hà Tĩnh” - ông bộc bạch. Ông Đạt là người luôn sát cánh và kể cho ông nghe nhiều điển tích, những nét sinh hoạt trong đời sống văn hóa của các vùng quê Hà Tĩnh. Sau khi Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh phát trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, ông Đạt đã gặp nhạc sĩ và bảo: “Anh không phải là người Hà Tĩnh mà viết hay như vậy thì là người Hà Tĩnh chính hiệu rồi đấy”.

Từ khi ra đời năm 1974 đến nay, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh được xem như “tỉnh ca”. Cứ dịp lễ lạt, liên hoan hay họp mặt ở bất cứ nơi đâu mà nghe câu: (Chứ) Đi mô rồi cũng nhớ về Hà Tĩnh/ Nhớ núi Hồng Lĩnh, nhớ dòng sông La/ Nhớ biển rộng (mà) quê ta ớ ơ ơ ơ… là ắt hẳn có người Hà Tĩnh. Trong sự nghiệp sáng tác, không phải người nghệ sĩ nào cũng có được niềm hạnh phúc ấy.

Trở thành “người Hà Tĩnh chính hiệu”, Nguyễn Văn Tý mang nặng nợ duyên hơn với miền quê này. Hai năm sau, ông Trần Quang Đạt lại mời nhạc sĩ về Hà Tĩnh để sáng tác về lĩnh vực xây dựng, thủy lợi. Ông gật đầu rồi theo chân đoàn trưởng văn công Lê Hàm đi thực tế tại công trường hồ Kẻ Gỗ. Hơn một tháng “ba cùng” với anh em văn công và công nhân công trường, bài hát Người đi xây hồ Kẻ Gỗ ra đời. Bởi chúng mình thương bao nhiêu mảnh đất cằn/ Mà đời không ngại đào mấy con kênh…, quả thật, hiếm bài hát nào viết về lao động lại dạt dào tình cảm, đẹp mộng mơ như thế. Bài hát mang âm hưởng dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh vừa thiết tha tình cảm gắn bó với quê hương, vừa hừng hực khí thế lao động hăng say của người đi xây hồ, đắp đập.

Cái duyên nợ của Nguyễn Văn Tý với núi Hồng, sông La cứ vậy theo mãi ông cho đến những năm tháng cuối đời. Vào năm 2006, hưởng ứng đợt vận động sáng tác về Ngã ba Đồng Lộc nhân ngày giỗ 10 nữ anh hùng, nhà thơ Bùi Mạnh Hảo đã đem bài thơ Mười bông hoa trinh liệt giữa Ngã ba Đồng Lộc đến nhờ nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý phổ nhạc. Vậy là từ thành phố Hồ Chí Minh, ông trở lại Hà Tĩnh khi đã 83 tuổi. Giữa Ngã ba Đồng Lộc lộng gió, người nhạc sĩ già chống gậy nhấc từng bước, run run thắp nén nhang trên nấm mộ mười bông hoa trinh liệt. Nước mắt lặng lẽ lăn trên gò má và một khúc ca bất tử ngân đọng trong tâm hồn nhạc sĩ. Thế rồi, trường ca Mười bông hoa trinh liệt giữa Ngã ba Đồng Lộc ra đời với những rung cảm vô cùng mạnh mẽ: Các o nằm lại đây phong sương cùng cây cỏ/ Dưới từng nấm mộ nhỏ e ấp một tâm linh/ Mỗi con tim chan chứa biết bao tình (…)/ Các o nằm lại đây vẫn thẳng hàng như một thời xông trận/ Đạn đã lên nòng, cuốc xẻng chắc trong tay.

Và đó cũng là ca khúc cuối cùng dành cho Hà Tĩnh, kết thúc sự nghiệp âm nhạc đồ sộ của người nhạc sĩ tài hoa.

NHỮNG “DƯ ÂM” CÒN LẠI
Ngồi trò chuyện được một lúc, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý nhờ tôi đỡ ông nằm xuống chiếc gường nhỏ. Tôi nhìn quanh căn phòng nhỏ treo đầy ắp những kỷ vật gắn bó với cuộc đời ông. Trong nhà ông, thứ còn “lung linh” nhất có lẽ là bức tường treo bằng khen, huân chương và những tấm ảnh cỡ lớn chụp ông với những người bạn. Căn phòng ông ở liền kề với gian ngoài, kê chiếc giường đơn bằng sắt, một cây đàn tranh cũ treo trên tường, chiếc organ hỏng phím và một chiếc ti vi nhỏ.

Phía đầu giường, bên cạnh bản đánh máy bài thơ của Hội Đồng hương Hà Tĩnh tại TP Hồ Chí Minh chúc thọ ông có treo một tấm biển màu đỏ, ghi: Tỉnh Hà Tĩnh hỗ trợ nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý an dưỡng tuổi già đến suốt đời, 5 triệu đồng mỗi tháng. Ông cho biết, cách đây mấy tuần, mấy anh ở Hội Đồng hương Hà Tĩnh đến thăm và chuyển tiền phụng dưỡng của tỉnh cho ông. Các anh ấy bảo, anh Hà Văn Thạch – Trưởng ban Tổ chức Tỉnh ủy Hà Tĩnh thay mặt lãnh đạo tỉnh nhờ Hội Đồng hương chuyển đến tôi lời thăm hỏi sức khỏe và tiền phụng dưỡng vì các anh Hà Tĩnh chưa vào thăm tôi được. Nhân gặp cậu ở đây, tôi nhờ cậu chuyển lời cảm ơn của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đến lãnh đạo và nhân dân Hà Tĩnh. Thật là quý hóa, tình sâu, nghĩa nặng biết chừng nào!

Tuổi cao lại thêm 3 lần bị tai biến, tắc nghẽn mạch máu não, hư thận, dạ dày và căn bệnh tiền liệt tuyến đã hạ gục ông. Tuổi già trong căn phòng nhỏ, ông phải dùng chiếc gậy 3 chân để đi lại, nhưng cũng phải có người dìu, còn mắt thì đã lão đến hết cả số. Cả một đời tằm nhả tơ, dâng hiến cho đời bao tuyệt phẩm, giờ đây, trong nỗi cô đơn của tuổi xế chiều lẻ bóng, người nhạc sĩ tài hoa ấy đang lục tìm lại ký ức một thuở. Ngày ngày, trong căn phố nhỏ, ông vẫn mơ dáng em đang ôm đàn dìu muôn tiếng tơ để rồi đêm đêm anh lặng ru người trăm năm.

Những khúc ca dặt dìu về những người phụ nữ một thời ông thương mến và về miền đất nợ duyên Hà Tĩnh vẫn ngân vọng thiết tha. Một thời và mãi mãi.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý sinh ngày 5/3/1925 tại TP Vinh (Nghệ An).
Tác phẩm được yêu thích: Dư âm, Mẹ yêu con, Dáng đứng Bến Tre, Bài ca năm tấn, Bài ca phụ nữ Việt Nam, Em đi làm tín dụng, Tấm áo chiến sỹ mẹ vá năm xưa, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh)...

TP Hồ Chí Minh, tháng 1/2015

Văn Học

Bên cạnh lễ vinh danh dân ca ví, giặm là di sản thế giới (tổ chức tối 31.1 tại Vinh, Nghệ An), vẫn còn có nhiều nghệ sĩ, nghệ nhân gắn bó với những khúc hát ví, giặm cảm thấy tủi thân, chạnh lòng vì bị lãng quên.

Chạnh lòng người nghệ sĩ
Khi nói đến dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh, thì phải nói đến nhạc sĩ Lê Hàm, PGS Ninh Viết Giao, nhạc sĩ Thành Lưu, nhạc sĩ Văn Thế, nhạc sĩ Phan Thành… Đây là những con người đã dày công nghiên cứu, bỏ biết bao công sức mồ hồi để sưu tầm, sáng tác và lưu truyền dân ca ví, giặm đến với công chúng. Bên cạnh đó còn có những ca sĩ như Lê Thanh, Sông Thao, Đình Bảo… (nay là nghệ sĩ ưu tú) là những người hát dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh đầu tiên đến với nhân dân… Tiếp đến là những ca sĩ lớp kế cận như Ngọc Hà, Hồng Lựu, Bích Ngọc, Tiến Dũng…. đã thanh danh nhờ dân ca ví, giặm được giới chuyên môn và công chúng đánh giá cao.

Nhạc sĩ Lê Hàm – người dày công nghiên cứu dân ca ví, giặm từ những năm 1970.

Thế nhưng tại buổi tổ chức lễ vinh danh dân ca ví, giặm được tổ chức rất hoành tráng ngày 31.1 vừa qua, những nghệ sĩ ưu tú như Ngọc Hà, Bích Ngọc… và các nhạc sĩ gạo cội như Lê Hàm, Song Thao… đều rất buồn, thậm chí bất bình vì ban tổ chức buổi lễ vinh danh đã “lãng quên” họ. Các nghệ sĩ, ca sĩ, nghệ nhân gắn liền với khúc hát dân ca ví, giặm từ những ngày mới vào nghề được công chúng và giới chuyên môn công nhận ấy, tiếc là không được mời tham gia biểu diễn chương trình; hơn nữa họ còn rất thất vọng khi chỉ một giấy mời xem chương trình thôi mà Ban tổ chức cũng không nhớ đến họ.
Nghệ sĩ ưu tú Phan Thị Ngọc Hà buồn bã cho biết: “Tôi là một ca sĩ, nghệ sĩ tham gia thể hiện những điệu hò, điệu hát ví, giặm ngay từ những ngày đầu tiên bước vào nghề. Sau một thời gian gắn bó với dân ca ví, giặm tôi được công chúng và các ban, ngành công nhận… Những ngày nay tôi rất buồn và tủi lắm, đi đến đâu ai cũng hỏi vì sao mình không được mời tham gia chương trình quan trọng này…”.
Khi trao đổi vấn đề này với ông Phạm Tiến Dũng – Phó Giám đốc Sở VHTTDL Nghệ An, ông Dũng cho biết: “Bản thân tôi cũng cảm thấy chạnh lòng cho các nghệ sĩ. Tuy nhiên, vấn đề không mời 2 nghệ sĩ Ngọc Hà và Bích Ngọc tham gia là chuyện của anh Vũ Hải (nhà biên kịch và đạo diễn chương trình). Tôi rất tiếc cho 2 nghệ sĩ Bích Ngọc và Ngọc Hà vì không được tham gia chương trình quan trọng đó… Đúng là đã có thiếu sót về vấn đề này”.

Nỗi buồn bằng khen
Quan điểm
Bộ trao bằng khen”.Nhạc sĩ Lê Hàm
Tôi là một trong những nhạc sĩ đầu tiên ở Nghệ An cùng PGS Ninh Viết Giao đã dày công nghiên cứu, sưu tầm, cống hiến cho dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh… Thế nhưng chúng tôi thì được tỉnh Nghệ An trao bằng khen, còn những người chỉ có xây dựng hồ sơ, tổ chức hội thảo lại được  
Sáng 31.1, UBND 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh tổ chức lễ vinh danh những nhạc sĩ, nghệ sĩ, nghệ nhân và những người có công đóng góp để Tổ chức UNESCO công nhận dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Tuy nhiên, ngay tại buổi lễ vinh danh này những nhạc sĩ, nghệ nhân như Lê Hàm, Thành Lưu, Văn Thế, Lệ Thanh, Sông Thao, Đình Bảo… chỉ được UBND tỉnh Nghệ An trao tặng bằng khen vì có những đóng góp quan trọng đối với dân ca ví, giặm trong suốt chiều dài hình thành và phát triển loại hình nghệ thuật này. Trong khi đó, điều khiến các nghệ sĩ, nhạc sĩ, nghệ nhân bức xúc là ngay tại buổi vinh danh, hơn 10 cán bộ công chức thuộc Sở VHTTDL Nghệ An như ông Phạm Tiến Dũng (Phó Giám đốc Sở), bà Nguyễn Thị Thanh Hương (Trưởng phòng Kế hoạch Tài chính), bà Đậu Thị Nụ (Phòng Quản lý di sản), bà Phan Thị Bích Hậu (Chánh văn phòng)… chỉ là những người tham gia xây dựng hồ sơ, tổ chức đánh giá sưu tầm, tổ chức hội thảo… thì lại được Bộ VHTTDL trao bằng khen.Trao đổi với nhạc sĩ Lê Hàm- người nhạc sĩ đã gắn bó hơn 60 năm với dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh trong vai trò người sưu tầm, sáng tác, ông tỏ ra bức xúc: “Tôi là một trong những nhạc sĩ đầu tiên ở Nghệ An cùng PGS Ninh Viết Giao đã dày công nghiên cứu, sưu tầm, cống hiến cho dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh…
Thế nhưng chúng tôi thì được tỉnh Nghệ An trao bằng khen, còn những người chỉ có xây dựng hồ sơ, tổ chức hội thảo lại được Bộ trao bằng khen. Tôi cảm thấy chênh lệch lắm. Nếu đúng thực sự tôn trọng chất xám, dày công đi tìm kiếm và cống hiến cho nền dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh thì Bộ phải vinh danh chúng tôi. Ngay cả cái bằng khen của tỉnh cũng không tôn trọng giới nghệ sĩ chúng tôi, buồn lắm nhưng biết làm sao được…”.
Về vấn đề này, ông Phạm Tiến Dũng – Phó Giám đốc Sở VHTTDL cho hay: “Bằng khen của Bộ và của tỉnh là ngang nhau, tôi không biết tiền thưởng trong mỗi bằng khen là bao nhiêu…”.

1. Người Đồng Lộ (Thạch Hà) quê tôi chẳng thể nhớ nổi chợ Trùa có tự bao giờ, chỉ biết người già, trẻ nhỏ trong làng khi lớn lên đã thấy chợ họp theo phiên ở bên một bãi đất trống dọc bờ sông, cạnh một ngôi chùa chỉ còn là phế tích. Dường như chẳng ai có thể nhớ chợ quê (mình) sinh ra từ lúc nào, nhưng có điều chẳng thể quên, chợ quê là trung tâm văn hóa của cộng đồng. Chợ là hồn của quê.

Ngày bé, mỗi lần đến phiên, nội tôi lại mở sập lúa xúc vài mủng gàu (một dụng cụ đo lường làm bằng tre), hoặc buộc túm đôi gà trống kiến, vài buồng cau đem ra chợ bán. Thế đấy, chợ quê trước hết là nơi giao thương, buôn bán những nông sản, thổ sản của địa phương. Đó là thóc, gạo, nải chuối, bó rau, đàn gà con, gánh rơm… của chợ vùng đồng bằng; là mớ cá, mớ tôm còn tươi nguyên, óng ánh ở chợ miền biển, hoặc là túi thổ cẩm, khăn voan, mật ong, sa nhân, những cây kim, hạt muối quý báu từ miền xuôi mang lên miền núi. Lớn lên, tôi còn được biết đến các chợ nổi ở miền Đông, miền Tây Nam bộ mỗi lần họp bồng bênh trên sông, xuồng ghe tấp nập với cây trái, tôm cá – những đặc sản của một vùng kênh rạch phù sa trù phú…

Xưa, người miền xuôi đi chợ, thường cho tất cả hàng hóa vào đôi thúng, đôi sọt rồi quang gánh lên đường, có khi đội thúng lên đầu, cắp mủng vào nách, hoặc chất lên chiếc xe thồ cũ mèm kẽo kọt đi từ sáng sớm. Chợ quê thường họp từ tinh mơ, đến lúc mặt trời lên quá cây sào (7-8h) thì vãn…

Chợ quê, không chỉ là nơi dành cho những người quê đến bán thổ sản mà còn thu hút người ở nơi khác đến bán buôn các loại hàng hóa như: nồi đất, vải, hàng xén… Do đó, nó tạo sự giao thương, mở rộng giữa người bản địa và người vùng khác, không “khép kín”, bó buộc.

Nhưng không đơn thuần là nơi mua bán các mặt hàng. Nó còn là nơi giao lưu tình cảm, thăm hỏi người thân, bạn bè, thông báo tin tức… Chợ miền núi là nơi hò hẹn, là ngày hội của những làn điệu Sli, lượn; của tiếng khèn sáo, điệu nhảy điêu luyện, váy áo, dù nón rực rỡ sắc màu của các chàng trai, cô gái Tày, Nùng, Mèo, Thái… Chợ miền xuôi (thường được mở ở đình làng, bãi đất trống, dưới hàng cây cao râm mát, trên bến, dưới thuyền…). Người ta, đến chợ có khi là để được tận mắt thấy:

Những cô hàng xén răng đen,

Cười như mùa thu tỏa nắng
(Hoàng Cầm)

Hay là để lại được nghe ông xẩm mù ngồi bên cổng chợ hát Phụ tử tình thâm; nghe ông lão bán thuốc lào nghêu ngao rao hàng; xem bà lão miệng bỏm bẻm nhai trầu, tay hướng dẫn cô cháu gái cách têm trầu cánh phượng… Trai khôn chọn vợ chợ đông. Chợ còn là nơi trai làng trên, gái làng dưới làm quen tìm hiểu, là nơi anh em, bạn bè gặp gỡ, trao đổi tin tức, gửi nhau đồng quà, tấm bánh cho người thân.

Có thể nói, ngày chợ là một ngày sinh hoạt kinh tế và văn hóa của người quê. Những người nông dân quanh năm vất vả với ruộng đồng, đồi nương muốn thay đổi không khí, môi trường… để có thể tiếp tục công việc hàng ngày. Vì thế, chợ quê đã đáp ứng được nhu cầu đó. Và mỗi vùng đất đều có một cái chợ riêng, chợ quê chính là hồn của quê. Cái hồn Việt ấy trải dài từ Bắc chí Nam, từ miền xuôi lên miền ngược, tạo nên một nét đặc sắc trong văn hóa người Việt.

Những hình ảnh tại phiên chợ Sa cuối cùng trong năm:


 Chợ được họp ngay trên cầu Ngòi bên đường vào trung tâm du lịch văn hóa Cổ Loa


Lá dong gói bánh chưng, thứ không thể thiếu trong phiên chợ cuối cùng của năm nên người buôn bán khắp nơi đổ xô về họp chợ


Chú Nguyễn Văn Sự, quê ở Mê Linh, chuyên bán mo cau cho biết: “Để chọn được chỗ ngồi bán hàng tôi phải đến từ 3h sáng. Phiên chợ cuối cùng trong năm nên rất đông, không có chỗ để ngồi đâu.”


40 nghìn một quả bưởi bày mâm ngũ quả


Đồ ở chợ quê giá rất “mềm”


Các cụ già mua trầu cau


Bà Thế, xóm Trại, Cổ Loa mang bán cau trồng được


Hai chị em bà Út đã gần 90 tuổi vẫn mang bưởi nhà ra chợ bán


Phiên chợ quê ngày cận Tết ở đây không thể thiếu những phẩm oản đỏ chót


Những buồng chuối cũng được pha và bán ngay tại chợ


Chú Long bán chiếu luôn miệng mời chào khách


Sắm hoa cảnh chơi Tết


Chợ đào bán dạo

2. Giữa thời buổi kinh tế thị trường, nhà hàng, siêu thị mọc lên như nấm, chợ quê vẫn còn chỗ đứng của nó. Bởi chợ quê phần đông là dành cho những người quê đi bán sản vật của nhà mình, để rồi mua lấy những gì đang cần… Tuy nhiên, chỗ đứng ấy đang có nguy cơ bị thu hẹp, mai một bởi sự “tấn công” của quá trình đô thị hóa.

Hầu hết chợ quê hôm nay đã được quy hoạch xây dựng một cách thuận tiện, đàng hoàng, khang trang. Hàng hóa đa dạng, đầy ắp các chủng loại. Cạnh chợ là các “phố” mua sắm, ăn uống, vui chơi… Cho nên, bây giờ, mọi người thường để ý đến hàng hóa, giá cả nhiều hơn là trò chuyện. Sự giao lưu giữa người bán hàng với người mua hàng gần như là rất ít. Khác với ngày xưa, chưa có điện thoại, internet, nên chợ là nơi trao đổi thông tin rất quan trọng, không đi chợ coi như bị mù tịt về thông tin. Đi chợ mới biết nhà nọ có đàn lợn nái vừa mới đẻ, sang mua con giống về nuôi. Đi chợ mới biết ở làng trên, nhà A vẫn còn dư lạc giống, hay sắp tới xã huy động dân làm thủy lợi…

Câu ca: Trai khôn tìm vợ chợ đông… dường như đã trở thành quá vãng ở vùng chợ quê miền xuôi. Chợ bây giờ không còn là nơi trai gái tìm hiểu, mà xô bồ khác xưa… Sự thân thiện, đẹp đẽ và đầy ắp tình người của chợ xưa dường như đã bị mai một. Người đi chợ bây giờ luôn “thấp thỏm” bị lừa mua phải hàng đắt, hàng dỏm, hết thời hạn sử dụng… Người bán bây giờ không ít kẻ gian manh. Thế là ngôn ngữ “kẻ chợ” – thứ ngôn ngữ ngày xưa người đi chợ rất ít dùng, bây giờ có khi lại “thông dụng”, làm cho nét đẹp văn hóa chợ quê bị ảnh hưởng.

Chợ quê bây giờ cũng đang dần đánh mất vẻ đẹp vốn có bởi rác thải và nỗi lo an toàn vệ sinh thực phẩm. Ngày xưa, ở chợ, người ta gói hàng bằng các loại lá, không ảnh hưởng đến môi trường: lá môn dùng gói ruốc, lá chuối gói bánh đúc, bánh mướt, thịt lợn… Còn bây giờ, túi ni lông xuất hiện, tràn lan khắp nơi, gây ảnh hưởng đến môi sinh, môi trường, mỹ quan của chợ. Rồi đến thực phẩm không rõ nguồn gốc; chân trâu, bò, thịt thối được “tẩy rửa” qua hóa chất; rau, củ quả ngập thuốc bảo quản của Tàu được đem về chợ quê tiêu thụ…

Theo Đề án “Phát triển thương mại nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới tỉnh Hà Tĩnh đến năm 2020”, hiện nay, khu vực nông thôn của Hà Tĩnh có 247 xã, thị trấn, trong đó 155 xã có chợ, 92 xã không có chợ. Theo quy hoạch phát triển chợ, quy hoạch xây dựng nông thôn mới, đến năm 2020 có 187 xã quy hoạch chợ nông thôn mới. Thiết nghĩ, trong quá trình quy hoạch, triển khai xây dựng mới, các cơ quan chức năng cần tính đến các tiêu chí để bảo tồn, gìn giữ, phát huy nét đẹp của chợ quê.

MAI HOÀNG - Báo Hà Tĩnh

Sâu Ciu Blog